Thơ Trạch Gầm

khởi đi từ đồi Tăng Nhơn Phú…

viết từ bạn bè


Bài Tặng Trạch Gầm


Khi Trạch muốn, Trạch gầm, Trạch hú
Ta muốn nghe cái thú Trạch gầm
Thơ người nếu chẳng lặng câm
Cũng nên gầm một tiếng gầm thật to

Con hùm đã nằm co trong lưới
Chẳng gầm lên thật mới dở tuồng
Anh không hò hét i uông
Làm lên quân giữa chiến trường cũng vui

Con hai đứa choai choai vừa lớn
Tuổi làng nhàng mơn mởn đào tơ
Nếu không gióng trống phất cờ
Trận tiền im lặng như tờ là sao

Chữ liên miên dạ cao chẳng thẹn
Chuyện tang bồng xin hẹn cùng ai
Nếu như tiền chẳng đã xài
Có đâu đủ thẹn cái tài trượng phu

Cam làm kẻ ngu phu ngu phụ
Biến thế gian làm nụ cười tình
Nhiều khi mình tự hỏi mình
Có ra gì nữa cái hình phù du

Trong cuộc chiến dù thu thắng lợi
Ta đâu cần thất bại, thành công
Hơn nhau duy một tấm lòng
Tấm lòng đối với non sông vững bền

Cho nên lúc tiến lên khỏi thẹn
Khi lui về đâu hẹn rút lui
Nghĩ xem phút chốc bùi ngùi
Ngọn cờ buông sõng ta lùi vào đâu

Chạy rong khắp năm châu bốn bể
Có cơm no đã kể là nhà
Nhìn nhau thẹn với quốc gia
Không gầm không thét thì ra mình hèn

Trạch ơi Trạch, trắng đen là thế
Trách mấy thằng vai vế lui binh
Tủi hận tấn cuội hòa bình
Cũng hô giải phóng dân thành dân ma.

Hà Thượng Nhân.



Tui Thương Thi Sĩ Trạch Gầm


Tui thương thi sĩ Trạch Gầm,
Bắn thù như ngóe, nhảy đầm như điên.
Rượu bia, chẳng phải anh ghiền,
Chẳng qua để trí khỏi phiền thế nhân !
Giải khuây, bằng cách xoay vần,
Đổ đầy nón sắt, chuyển lần anh em.
Hiên ngang, nhưng chẳng say mèm,
Không hề cõng, đội cấp trên bao giờ.
Quen anh, một dịp bất ngờ :
Qua ông nhà báo, làm thơ Hải Bằng.
Tui đánh máy, viết lăng nhăng,
Meo qua, meo lại, 2 thằng biết nhau.
Bốn phương tìm bạn chi đâu,
Trúng đài… nòi lính tâm đầu… huyên thuyên.
Đời trai chinh chiến tưởng quên,
Nào hay con tạo đưa duyên… dẫn đàng.
Quê người, nhẹ bước lang thang,
Bọn tui ba đứa, ngỡ ngàng… cụng ly.
Nhớ ôi, thuở khoác chiến y,
Nào ngờ đời lính ra đi, còn về ?!
Nhớ thương lối cũ trăng thề,
Cọp già nhớ suối, sơn khê chập chùng…
Thèm nghe tiếng súng bùm bùm,
Ghiền xem Việt Cộng… lăn đùng phơi thây !
Quê hương sẽ có một ngày,
Ta về nhịp bước tái xây cuộc đời…
Trẻ thơ rộn rã tiếng cười,
Mẹ già móm mém, lòng phơi phới mừng !

HOÀNG NGỌC VĂN
(Tết Kỷ Sửu 2009)



Gửi: TRẠCH GẦM


Mày biết không,
Tao tìm đường về quê nhìn không thấy ánh bình minh.
Tiền lính… tính liền! Làm sao có tiền mua đất.
Nhà-Ruộng-Vườn của ông bà, cha mẹ ư?
“Tập Đoàn – Tập Thể” nó lấy mất…!
“Kinh-Tế -Mới” là chốn nương thân.
Thời buổi đổi đời – khỉ nó xuống đồng bằng.
Ao cá tao nuôi là… hố bom: Muỗi-Mòng-Đỉa-Vắt…
Nhìn đêm trăng núi rừng vằng vặc,
Tao với mày từng nằm “Chiến trường xưa”
Cả Miền Nam lũ và mưa…
Máu, nước mắt chảy theo hồn sông núi.
Cụt hai chân nhưng tao là thương binh của “Ngụy” !
Đâu phải là: cùi, hủi.
Tao không ăn xin là để giữ thể diện lính Quốc gia.
Bắp tao trồng đã trổ hoa,
Trên chiến địa – tao với mày một thời chiến đấu.
Sự “Hoán đổi” chỉ có trời mới thấu.
Còn tao với mày tay trắng có còn chi mà dấu?
Tao không trách hay giận hờn gì mày đâu
Đêm nằm mơ nghe pháo kích nện trên đầu…
Mồ hôi vã – giật mình… ra vườn dạo:
Thương cho mày đi cải tạo ở rừng
Xót cho tao ở núi. Nghĩ mà đau!
Đất tao cày nhưng không phải của tao
Của “Toàn dân…”! Mày có biết?
Bị “Giải tỏa”! Tao lại vô rừng có cần chi đâu mà tiếc.
Như con tằm, cái kén, nghĩ tương lai.
Cuộc đời tao với mày dù có ngắn,
Nhưng đời con, cháu còn dài…
Mày không về, những lúc ngồi sau hè tao…nhớ:
Khí phách hiên ngang
Của ngưới lính Việt Nam Cộng Hòa muôn thuở;
Giữ mãi trong tim.
Tao với mày là những cánh chim
“Bị thương” trên chiến trường ngày ấy…
Buông súng trên đồi !
Vết thương dù còn sưng tấy,
Vẫn giữ nét oai phong.
Đời chiến binh – tao và mày không làm điều gì thẹn với lòng.
Với non sông Tổ quốc.
Tình đồng đội năm xưa rất thực:
Bi đông nước còn vài ngụm cũng xẻ chia.
Dưới giao thông hào khát khô, cay đắng.
Đạn thù trên đầu đang bắn…
Đời chiến binh mạng sống có nghĩa gì đâu.
Mày tha hương ôm nặng nỗi sầu;
Tao ở lại mang niềm đau thân tàn nhưng không phế !
Cảnh đời dâu bể…
Mong một ngày được thấy ánh bình minh.
Cảm ơn mày “Thiên thần” tao vẫn… xinh!
Hoa bắp nở… trắng trời xanh thẳm.
Tao biết mày thèm lắm…
Rượu đế tao nấu – cá chốt chưng tương,
Không có mày, tao uống một mình… đắng nghét;
Hàng cây so đũa trước nhà rớt mấy giọt sương!

Trang Y Hạ



Về Tây-Ninh
… nhắc tới Trạch Gầm


vẹt gót giày chưa? về đây nghỉ tạm
quạnh quẽ một trời Konya của ngày xưa
chiều dựng đứng trên đồng hoang bến Sỏi
nhắc tên người một bữa ở thành xưa

mấy mươi năm dấu chân mờ trên đá
núi của ngày nào người lỡ qua đây
sau cuộc lửa binh chẳng còn chi cả
người bỏ cơ đồ, rũ nợ thành Tây

chiều nay ghé Khiêm-Hanh vùi trong nắng
thẫn thờ ta đếm mấy cội cao su
dấu đạn quen quen làm rưng rưng nhớ
nhắc một người đi chưa rửa được thù

Khe Dol, tắm máu còn nồng trong gió
Bổ-Túc trùng trùng xác giặc phơi sương
rừng Sáu Mẫu còn đầy nguyên bầu rượu
biết có ngày mai rót giữa chiến trường?

thôi ta gởi về người hương với khói
như gởi cả lòng một thuở đắng cay
người bỏ Tây-Ninh đìu hiu đứng đợi
đất khách xa xôi ngồi nhớ từng ngày

mai mốt có về qua phố Long-Hoa
chẳng kẻ đợi người chuốc rượu để say
bạn bè bạc tóc, theo nhau về đất
trơ lại thành Tây với thuở đi đày

nguyễn thanh-khiết
03-2011



Trạch Gầm ơi !… uống rượu


ông ngồi chỗ đầu ngoài chiếu rượu
thủ cái chai đừng để bốc hơi
rượu này cất bằng nước giữa trời
không nhiễm nước sông Hồng, sông Hậu


còn dăm đứa cứ chia đầy chén
bốn mươi năm hổng lẽ mình say
đám tụi mình con ghẻ, con lai
mỗi thằng trấn mỗi đầu địa ngục


ừ cứ uống cho tan cái nhục
uống như thời da ngựa bọc thây
dù bây giờ mỗi đứa đông, tây
tưởng như thể mình trên chiếu rượu


thằng vùng một – tiêu tùng quan ải
thằng vùng hai – rớt mẹ Nha Trang
ông vùng ba – Biên Hoà loạng choạng
tui hết thời – vùng bốn cũng say


còn chung cuối chia đều bốn đứa
mỗi một thằng cạn chút bi thương
mình dựa nhau trên chiếu đoạn trường
với chung rượu vừa tràn nước mắt


thằng đi xa đã đành muối mặt
ngó về quê đứt ruột từng cơn
thằng ngồi đây chẳng làm gì hơn
ôm chai rượu vùi trong quá khứ


mấy mươi năm biết bao lần thử
yên cương tan tành, vó ngựa đau
thôi… gọi nhau uống trong chiêm bao
nhìn chiếu rượu tiếc thời đẫm máu

nguyễn thanh-khiết
03-2011


Đọc Thơ Trạch Gầm


Đọc thơ Trạch. Gầm vang trời đất
Buốt trong lòng bần bật bi thương
Gom đau xót những ngày nước mất
Vào mũi tên hòn đạn chiến trường

Anh hẳn biết lính là thống khổ
Là gian truân ra tử vào sinh
Là làm bạn bụi cây ngọn cỏ
Là thịt da luôn đọng nước xình

Anh biết lính trong rừng mù mịt
Nhìn đêm đen lòng dạ kiên cường
Tay súng thép ngời lên bất khuất
Sao có ngày nước mất đau thương?


Anh viết lên mỏi mòn cải tạo
Những lọc lừa Cộng Sản gian manh
Ngày cáo chồn đêm thành hổ báo
Rút máu xương thể xác dân lành

Đọc thơ Trạch uất lên tận óc
Mà sao buồn. Buồn mãi mênh mang…

Đông Anh



Đọc Thơ Trạch Gầm


Đọc thơ Trạch Gầm đêm giữa tháng Giêng
Ta thấy lòng ta dâng ngập muộn phiền
Cảm hiểu được em, người cùng chiến tuyến
Thân tâm khắc khoải tình nước cao thiêng

Em khóc cho em, hay người đã chết?
Nhắc nhớ về xưa trên khắp nẻo đường
Hào khí trùng trùng, yêu mê đời lính
Kể chuyện quân hành thương quá là thương!

Bây giờ tháng Giêng, trời rét Cali
Gió quật cuồng điên, gió hú dị kỳ
Như tiếng thét GẦM nghẹn trong thơ TRẠCH
Văn thơ chiến trường, toàn chuyện tử, ly

Em kể chuyện xưa, lời thật dễ thương
Nhắc nhớ bạn bè một thuở gió sương
Đứa đã vùi thân máu hòa đất Mẹ
Đứa còn lăn lóc cuộc sống tha hương

Bức xúc trong em đong đầy tình nghĩa
Một thoáng nhớ thương, nhiều thoáng ngậm ngùi
Ta hiểu em nhiều vì chính mình bỡ ngỡ
Sống giữa nhân gian không biết nên khóc hay cười?

Trên ba mươi năm kể từ mất nước
Hơn nửa cuộc đời tóc đã trắng phau
Quá khứ đau thương tuyệt vời em đã vẽ
Cũng đủ ngọc ngà để lại nghìn sau

Thôi hãy sống đời mình đi em nhé
Không được buông xuôi, như đã oanh liệt một thời
Phải tạo cho ta một cuộc đời đáng nể
Bất cứ nơi đâu, cũng xứng tiếng làm Người !

(2 giờ khuya chợt thức, mầy mò viết trong tối đen)
18/1/2008.
Mai Nguyên



Gửi đến anh Trạch Gầm
… cùng nhớ đến ngày còn cầm súng


Trung đội mình trườn dài trên dốc
Loạt AK xối xả trên lưng
– Cố lên đi, chỗ tao còn trống
Nó lắc đầu: lên không nổi đâu
– Uống đi mày… đụ mẹ nó xui…..
Một miểng nhỏ mà sao đành đoạn

Tiểu đoàn về Bình Điền, Chợ Đệm
Ngày lội sình, đêm gối đầu rơm rạ
Sáng chuột đồng chiều cá lóc nướng trui
Ngày cuối tuần, vợ xách giỏ đồ ăn
Cùng hú hí, vợ chồng con cái

Đại đội hàng ngang… nhìn nhau lầm lũi
Rời Cổ Thành, chua xót lòng đau
Đụ mẹ… bom trúng đầu tao
Bao nhiêu ngày… công lao đổ biển
Thôi ! Bàn giao Cọp Biển
Bại tướng về… băng bó thương đau

Dìu mày đi đến bãi trực thăng
– Mày ở lại, đừng ẩu nghe con
Trong ba lô còn cái poncho
Mày quấn đỡ những đêm gác giặc

Lính Già
30/3/2011

(khi đọc bài “Về Truông Mít… ngồi uống cùng thằng em út Khiết”)

(Từ http://hung-viet.org)


LỜI NGƯỜI DƯỚI MỘ


Lê Tấn Dương

(Họa bài thơ “Lời trước Nghĩa Trang” của Trạch Gầm)


Tao chết đớn đau nửa chừng cuộc chiến
Bỏ lại sau lưng những chuyện bi thương
Đành làm bóng ma nhìn theo vận nước
Phù trợ tụi mầy gió núi đồi sương.

Mầy nói “tao hơn” vì tao đã chết
Đã hưởng lễ nghi – Tao đếch có cần
Sống phải hiên ngang, chết không hối tiếc
Trả súng cho tao, mầy chịu hay không ?

Tao chết lần 2, từ ngày mất nước.
Chuyện thật đau thương, đâu phải khôi hài
Mồ mả anh em – thêm lần sỉ nhục
Chúng phá, san bằng từ đó đến nay.

Thôi trách làm chi đám người cuốn gói
Thà chết vô danh, bảo vệ màu cờ
Mộ phần tụi tao ba chìm bảy nổi
Tưởng chết là yên – Ôi chuyện nằm mơ !

Tao vẫn nguyện cầu đàn con của Mẹ
Bảo vệ non sông – Tiếp bước Ông Cha
Vẫn nhớ thương mầy, những thằng chưa chết
Quê hương chờ mầy với cả thiết tha.

LÊ TẤN DƯƠNG (K2 CTCT)

Tôi viết bài nầy trong những ngày cuối năm
Để tưởng nhớ đến 56 tử sĩ K2, quý Huynh Đệ đồng môn
cùng hàng vạn anh em đồng đội khác đã hy sinh thân xác
trong cuộc chiến trước năm 1975.



LỜI NGƯỜI DƯỚI MỘ


Lê Tấn Dương

(Họa bài thơ “ Ân Tình” của Trạch Gầm)

Gởi bạn bè còn đang sống đâu đó bên trời


Mầy đùa thôi, tao đâu cần qua Mỹ
Đời tụi tao giờ chẳng có gì vui
Tao bám đất để ngăn làn sóng đỏ
Cho tụi bay đỡ vất vả ngậm ngùi

Nằm dưới huyệt, nhưng tao nhìn rất rõ
Ngày tụi bay nức nở khóc sơn hà.
Giải khăn sô che niềm đau thế sự
Vợ chồng, cha con – Phút bỗng chia xa.

Thương tụi mầy nghẹn ngào theo nỗi nhớ
Lê gót tù khắp rừng núi mù sương
Biết làm sao hết nhục nhằn nầy nhỉ
Cả miền Nam cùng quằn quại đau thương.

Thằng Mỹ chết kề bên tao ngon chứ
Cũng anh em bằng hữu giống tụi mình
Tao thương nó vì chí tình chí nghĩa
Bảo vệ miền Nam, nó đã hy sinh.

Nó còn trẻ biết mẹ gì chuyện nước.
Tin tao đi, nó chết chẳng buồn vui
Nó đến đây vì những điều cam kết
Chết hào hùng giữa chiến cuộc nổi trôi

Cảm ơn tụi mầy vẫn còn hoài bảo
Tao chờ mầy ngày trở lại quê hương
Ôn kỷ niệm một thời chinh chiến cũ
Mặc dòng đời và mái tóc đẫm sương.

LÊ TẤN DƯƠNG (K2 CTCT)
Olympia, WA


Tháng Tư Hai Ngàn Lẻ Chín


Người về như thế đó, sao?
Ngồi taxi, kể tào lao chuyện đời
Mấy mưới năm ở xứ người
Trở về Tổ Quốc lạc loài chiêm bao! ……
Người về! Ôi người về đâu?
Áo nhung, áo gấm, mặt màu phấn son
Ờ thì Tổ Quốc Quê Hương
Chẳng qua Cõi Tạm, còn chường mặt chi?
Người về một tháng rồi đi
Kẻo tiền trợ cấp nó thì mất tiêu!
Ngồi taxi, người nói nhiều
Mà ngơ ngẩn tựa như diều đứt dây!

Người về, uống rượu cho say
Cho quên đi cõi đời này bể dâu!
Bảo rằng: Phật hứa kiếp sau
Người về không để ngồi lau mặt hoài.
Tội nghiệp người! Thương xót người.
Con chim chiền chiện hót rồi, đã bay!
Có thằng làm thơ thật hay (*)
Là Trạch Gầm đó, “Ðụ Mẹ Mày Cộng Quân!”
Hỡi ơi Tướng xuống Cầm Quần
Thì bọn Tàu Phỉ chúng cần sợ ai!
Trạch Gầm không chưởi mỉa mai
Mà hắn chưởi thật, chưởi loài Việt Gian
Anh hùng ra ngõ, hiên ngang
Mở lời cửa miệng, chào hàng… đầu tư!

Người về như đứa bé thơ
Tiếc thay tóc bạc bơ phờ tha hương!
Ngồi taxi dạo phố phường
Thấy vui không nhỉ, sao buồn thở ra?
Trạch Gầm chưa chưởi Ðụ Cha
Thì nghe ta chưởi: “Tổ Bà Mẹ Bây
Già đầu lòng vẫn thơ ngây
Theo voi hít bã mía ngầy ngật chăng?”
Người về thăm lại Việt Nam
Thăm loài Cộng Sản, đầu hàng chúng đi!
Ðụ Cha cái lũ ngu si
Ăn cơm biết chọn, chơi thì… kệ tao!
Tháng Tư Ðất Nước Thay Màu
Tháng Tư Lắm Kẻ, Nói Sao, Bây Giờ?


TRƯƠNG NGHĨA KỲ

(*) Nguyên văn bài thơ của Trạch Gầm:
Cho tao chưởi mầy một tiếng



ĐỌC THƠ TRẠCH GẦM


Tập thơ “Ráng Chịu” – Trạch Gầm
Hôm nay nhận được nhủ thầm Trạch ơi
Thơ sao chan chứa khôn nguôi
Quê hương kỷ niệm một thời chiến chinh

Mười năm khoác áo chiến binh
Mười năm “cải tạo”, tội tình chi đâu?!
Giờ đây tóc đã ngả mầu
Tha hương biệt xứ, nhìn nhau ngậm ngùi

Trai thời loạn, mấy ngày vui
Tuổi thanh xuân đã chôn vùi ven đô!
Phú Xuân, Rừng Sát, Hố Bò,
Củ Chi, Thạnh Lợi, Lò Gò, Dầu Dây…

Đọc thơ Trạch, đoạn sau đây
Bỗng dưng nước mắt dâng đầy, tuôn ra
Thương cho đời lính chúng ta
Đứa còn đứa mất… như là chiêm bao:

“Tết Kỷ Dậu, tao dẫn quân truy kích
Vào Gò Me, sau nhà máy Tân Mai
Vợ thằng Dấm đấm ngực tao bình bịch
Chồng em đâu, chết rồi hả Anh Hai”

(thơ Trạch Gầm “Nỗi nhớ vẫn y sì”)


Làm sao ngăn giọt lệ trào
Anh em đồng đội nghẹn ngào ra đi
Người còn kẻ mất kể chi
Quê hương mà mất… tử ly sao đành?!
…..


HỒ CÔNG TÂM
Austin, October 5, 2009






Thành Tây còn đó lời thề


(trả lời thư Trạch Gầm)

Người về Trảng Sụp cho ta gởi
một vò rượu máu buổi đi xa
rượu còn sót lại thuở Trảng Sa
rót xuống Khiêm Hanh ngày đất chết

Bổ Túc, Cần Đăng uống chưa hết
say nghiêng trời tưới ướt Mỏ Công
chiến bào phơi dọc Vàm Cỏ Đông
mấy mươi năm chưa về thăm lại

Người ghé Konya đừng về Trảng Lớn
Dốc Cây Me đã chết bên cầu
dấu giày còn bùn đất Suối Sâu
xác bè bạn lều bều Bến Sỏi

Kàtum, Khe Dol một trời đỏ ối
nhớ làm gì xương cốt rã tan
thằng chết, chẳng thể tới thiên đàng
thằng còn, lất lây thân đất khách

lũ chúng ta bây giờ hết sạch
Trạch Gầm ơi ! còn tiếc mà chi
thuở người mang quân trấn biên thuỳ
lội ruộng, dầm mưa Rừng Sáu Mẫu

Trạch Gầm ơi ! nỗi buồn đau đáu
người rót mời ai lúc chiều về
thành Tây còn đó một lời thề
chừng nào quay lại? bao thằng đợi?

người gởi ta chút gì gọi nhớ
một Tây Ninh máu nhuộm núi Bà
người và ta những đứa đi xa
còn nợ đất này chung rượu phạt

hôm nay buồn – nỗi buồn bát ngát
gom hết cho người – ta rót đây
rót mời thằng mất cẳng, mất tay
đang hụt hơi cùng ta lận đận

mai mốt về thành Tây trút hận
vác một vò tưới xuống thù xưa
người sẽ cùng ta đứng nhìn mưa
rớt rầu rĩ trên bầy mả lạc

Trạch Gầm ơi ! còn đây tan nát
đợi người về lượm hết đem chôn
Tây Ninh còn đầy rẫy cô hồn
vất vưởng ngóng người về rót rượu

nguyễn thanh khiết
Sài-Gòn
9-11-2012


TRẦN VĂN SƠN


Uống rượu tại nhà Lê-Hùng với Trạch-Gầm, Thiết-Trượng,
Lê-phi-Ô, Phan-bá Thụy-Dương, Vương-Trùng-Dương.



Rượu rót tràn ly nâng ly cạn
Lực kiệt thân tàn vạn nỗi đau
Càng uống nhìn nhau càng khóc hận
Giày saut chưa dẫm nát rừng sâu


Rót thêm ly nữa mời bạn hiền
Chưa say sao mắt bạn rưng rưng
Thám-sát tử sinh trong lòng địch
Sá gì ly rượu buổi tàn đông


Chiến trận bày ra trên bàn tiệc
Bình-Long, Quãng-Trị, Chiến-Khu Đ
Pleiku, Bình-Giã, đồi Bảo-Đại
Tráng-sĩ đi không hẹn ngày về


Quanh quẩn bên ta hồn chiến hữu
Về đây gặp bạn chiến trường xưa
Sống gởi thác về, nâng ly rượu
Ta bạn chung lưng gió chuyển mùa


Sĩ khí có ai hơn Khương-Thượng
Đành buông câu sông Vị chờ thời
Đồng đội đứa còn thằng mất tích
Hài cốt phơi xương trắng núi đồi


Về đây mờ mịt khói sương vây
Quỉ ám đường quê mắt lệ đầy
Sông núi hỗn mang người và thú
Đất xông âm khí dậy trời mây


Tiệc tàn chỏng chơ bàn ghế lạnh
Gặp nhau thoáng chốc vội chia tay
Bạn về ta ở đời hiu quạnh
Râu tóc bạc phơ tiếp nối ngày


Tiệc tàn chẳng lẽ tàn theo tiệc
Còn triệu con tim vạn tấm lòng
Còn triệu con tim chung nhịp đập
Vùng lên đồng lực dựng non sông


TVS – Đường-Trúc Thư Trang
05/2013


RƯỢU ĐẮNG !



LÊ-PHI-Ô tặng Trần-văn-Sơn, Trạch-Gầm, Thiết-Trượng,
Vương-trùng-Dương, Lê-Hùng, Phan-bá Thụy-Dương.


Người lính năm xưa đầu đã bạc
Xa lìa cố xứ sống nổi trôi
Lâu lâu xuống phố tìm bạn cũ
Rủ ghé Lê-Hùng uống rượu chơi.


Nhớ chiến trường xưa tràn lửa đạn
Tụi mình sống được cũng là may
Ngờ đâu gặp lại phương trời lạ
Vui ngày hội ngộ choáng men cay.


Rót nữa đi Sơn ly rượu cạn
Uống men say sao thấy đắng cay
Đáy cốc thoáng về gương mặt bạn
Những thằng gục chết giữa trùng vây


Những thằng banh xác không kịp trối
Để tao được sống đến hôm nay.
…………………


Năm ngón tay run…nâng ly uống cạn
Gục xuống bàn, tao khóc…nhớ tụi bây !


Lê-Phi-Ô
tháng 04 năm 2013


Dấu đạn còn nguyên


(gửi Trạch Gầm)


Bữa ghé Đồng Long – trời nắng gắt
kiếm lỗ châu mai của ngày xưa
trên hoang tàn cỏ cháy lưa thưa
dấu binh lửa còn như ngày cũ


ta gọi tên ngươi – người cố cựu
của một thời mũi đạn làn tên
ngươi chưa quên – ngươi vẫn không quên
chiến trường cũ, trăm quân nằm lại


An Lộc kia mồ xanh, đất chết
mấy mươi năm ngươi rót mời ai?
còn nhắc chi những tháng những ngày
cỏ mọc che dấu giày chinh chiến


ngươi mà về Lai Khê, đồi Gió
chỉ làm buồn thuở vó ngựa xưa
bầy cao su ngày xưa, rất xưa
lối quân đi – đi vào tuyệt lộ


ngươi về chi lòng thêm phẫn nộ
thương cao su chảy mủ Đồng Long
thương những thằng nằm chết giữa đồng
xương cốt rã không mồ không mả


thôi thì nhắc ngươi thời yên ngựa
chẳng còn gì chỉ nhớ mà thôi
cho dù ngươi lạc đất xa trời
vẫn có đứa chờ hoài chung rượu


về Bình Long nhớ thời lính thú
qua Lai Khê nhớ buổi tan hàng
cái đau mà nghĩa nặng tình mang
sẽ có lúc bày trên một chiếu

nguyễn thanh khiết
1-06-2013




**************************************************************************************************
**************************************************************************************************


Sử Thi Người Lính Trẻ

( Lời bạt cho tập “Vụn Vặt”)


Vào dịp 30 tháng 4, 2007 tòa soạn Thời Luận có nhận được một bài thơ của anh, do người bạn của anh và cũng là bạn của tôi, gửi tới. Điều khiến tôi chú ý đầu tiên khi nhận được bài thơ này là tên tác giả của nó. Nhiều câu hỏi xuất hiện trong đầu tôi như tại sao ông hay anh thi sĩ này không chọn cho mình một bút hiệu dễ thương như các ông bà thi sĩ trong cộng đồng ? Mà Trạch Gầm là gì ? Đó có phải là tên nơi chôn nhau cắt rốn của tác giả không ? Hay Trạch Gầm giản dị chỉ là…ông Trạch gầm thét bằng thơ ?

Đó là bài thơ tám chữ. Đọc bằng mắt mới được vài câu thôi là tôi đã cảm thấy cái hồn thơ của anh, cái hơi thơ của anh nó thấm ngay vào trái tim tôi. Thế là tôi đọc bằng miệng. Giọng tôi mỗi lúc một to hơn và mỗi lúc lại có thêm cả sự diễn tả khiến tôi như một tài tử đang tham gia một vở kịch thơ vậy. Tôi ngẩn ngơ tự hỏi tôi câu hỏi ban nãy trong khi tôi đọa lại bài thơ thêm lần nữa : Anh thi sĩ này làm thơ từ bao giờ mà sao mình chưa nghe tên anh ta và cũng chưa đọc thơ của anh ta ?

Sau đó ít ngày, tôi nhận được thêm vài ba bài thơ của Trạch Gầm. Càng đọc thơ anh càng thêm mến mộ khiến tôi đi tìm anh. Chúng tôi gặp nhau trong buổi kỷ niệm của anh em tù cải tạo. Trạch Gầm có nụ cười bẽn lẽn như con gái. Nhưng Trạch Gầm lại là người cựu tù duy nhất mặc đồ lính, đội chiếc mũ lính. Bộ quân phục của anh bạc màu, cũ kỹ chứ không phải đồ của lính kiểng mỗi năm chỉ mặc vào ngày kỷ niệm quân lực. Trạch Gầm không đeo lon nên tôi không biết anh cấp bậc gì. Tôi không hỏi vì thấy chi tiết đó không cần thiết vào lúc này. Sau đó ban tổ chức mời anh lên sân khấu trình bầy thơ của anh. Dáng điệu của anh là một sự trục trặc giữa những nét ngang tàng, kiêu hùng của người lính tiền phương nhưng lại lúng túng vụng về của một học sinh trung học. Thành ra tôi nhớ hôm đó anh vừa đọc vừa ê a ngâm thơ, trong lúc hội trường lại qúa ồn ào nên tôi không có một cảm xúc nào như khi một mình ngồi đọc thơ của anh.

Ít ngày sau, Trạch Gầm gởi cho tôi tập bản thảo chưa có tựa gồm hàng trăm bài thơ của anh. Vẫn là những câu thơ của một người lính lưu lạc nơi đất khách nhớ về quê hương đất nước, nhớ bạn thời hoa niên và nhất là nhớ chiến trường xưa. Cái nhớ da diết này vừa bi thảm phẫn hận vừa hào khí ngất trời mà nhiều người đã so sánh như con hổ bị nhốt trong sở thú nhớ rừng hoang. Tất nhiên là sự so sánh ấy chỉ đúng một phần thôi, bởi vì người lính trong con người thơ Trạch Gầm, không chỉ mong thoát cũi xổ lồng để tung hoành mà trong ông, hay nói đúng hơn là trong thơ của ông, luôn luôn thấy nói tới một sứ mạng chưa hoàn thành, nghĩa là trách nhiệm bảo quốc an dân của người lính Trạch Gầm còn dang dở.

Việt nam đã trải qua cuộc chiến dài nửa thế kỷ. Khói lửa của bom đạn đã đưa nhiều nhiều chiến sĩ của chúng ta vào trang sử vàng của dân tộc thì đồng thời cũng đưa nhiều chiến sĩ của chúng ta bước vào văn học sử. Cho nên trong nhiều thâp kỷ nay, chúng ta đã đọc nhiều thơ văn mà tác giả đồng thời là người lính. Nhưng lạ thay, những người lính trong thời chiến mà tử thần theo gót quân thù đang rình rập theo từng bước chân ta di chuyển, thế mà ít có người lính làm thơ hay viết văn chiến đấu. Thơ hay văn chống cộng, đề cao tự do dân chủ lại càng hiếm hơn nữa so với số lượng thơ tình mà đề tài thường hoặc là tả tình tả cảnh anh chiến trường em nơi hậu tuyến, hoặc là anh đã hy sinh để em ngày mai đi nhận xác anh, rất là bi thảm, mà tác dụng có thể đã làm nản lòng người lính không ít. Tôi còn nhớ trong cuốn phim “Người Tình Không Chân Dung”, còn dựng lên bên trong trại lính một cái gọi là “U hồn cốc” để những người lính than khóc bạn bè vừa chết trận. Chẳng những thế, nhà làm phim còn cho một quân nhân vác một cái quan tài trên vai, ngất ngưởng đi trong men rượu và trong thương tiếc… Rồi thì khi ở trong trại tù cải tạo, tôi ngồi cùng những sĩ quan cấp úy, nghe quản giáo chửi mắng là “lính ngụy” là bọn man rợ vì đã từng ăn gan ăn tim “chiến sĩ cách mạng”. Tên quản giáo dẫn chứng “lính ngụy” man rợ vì có những đơn vị mang tên là “Trâu điên”, “Cọp ba đầu rằn”… Hắn ta rủa tiếp: Có phải tôi nói đúng không nào ? Chính các anh đặt tên là trâu là cọp chứ không phải cách mạng xuyên tác đâu đấy nhé. Mới đây này, một tên trong bọn lính ngụy chạy thoát ra nước ngoài, nó làm bài hát, có câu “ta giờ như con thú hoang lạc đàn… Đấy. Đấy. Thú hoang đấy.

Đó là vài ba trong cả trăm ngàn lý do để cắt nghĩa tại sao ta thua vào tháng Tư năm 1975.


Ngày mất nước không tin mình thua cuộc
Tuổi mới hăm đã lững thững vô tù
Vai nhẹ tếch quải vài dòng nước mắt
O Huế nào đã khuấy đọng lu bu…

Người lính Trạch Gầm vô tù cải tạo mà vẫn không thể tin miền Nam đã sụp đổ. Khi cả đại khối quân đội Việt Nam cộng hòa kiêu hùng đã tan như bọt sóng thì người lính trẻ này không còn nơi nào để tới, không còn ai để tâm sự ngoài khu nghĩa trang là nơi yên nghỉ của một số bạn bè và thi thầm :

Mày đã hơn tao vì mày đã chết
Hưởng chút lễ nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không…

Cũng như thân phận những quân cán chính khác, ở tù ra, Trạch Gầm phải đưa ra đình đi lên rừng sinh sống trong cảnh gọi là khu kinh tế mới.

Ít lâu sau, anh được sang Mỹ định cư trong chương trình HO. Anh đi mà lòng không muốn rời bỏ quê hương bởi vì nước Việt Nam của anh là thịt da, là hơi thở của anh. Thế nhưng vì vận nước, anh đành phải mang các con ra đi với dự tính rằng nơi đất tự do kia, anh tự nguyện làm phân xanh cho đàn con hút nhựa sống mà vươn lên đơm hoa kết trái hầu có ngay thay thế anh trở về trả món nợ mà anh còn thiếu với quê hương :

Thôi, ngày mai cha con mình sẽ
Vẫy tay chào tạm biệt quê hương
Mình ra đi mà mình vẫn nhớ thương
Ngày khôn lớn con về trang trải nhé.

Trạch Gầm viết khá nhiều bài về cuộc sống và tâm tình của anh trên miền đất tạm dung, tuy gọi là quê hương mới, hay quê hương thứ hai, nhưng với anh thì vẫn chỉ là ăn nhờ ở đậu. Anh nhó về những ngày tháng ở quê nhà mà nhớ sâu đậm đến quặn lòng thắt ruột chính là đời lính với những thằng bạn lính, với chiến trường khét mùi thuốc súng và tanh mùi tử khí.

Nhớ bọn mày, nhớ bắt khùng nỗi nhớ
Lạc lõng tựa chừng viên đạn mồ côi.

Người lính Trạch Gầm phẫn uất la hét:

Thèm quá mất, một góc trời đất mẹ
Đêm giao thừa quanh quẩn chuyện đao binh
Chuyền hơi ấm mỗi bình đông rượu đế
“Ráng lên em” mai mốt đón thanh bình…

Trạch Gầm có một bài thơ tựa đề là “Cùng với tháng Tư”, diễn tả tâm trạng người lính lưu lạc ở xứ người vào mỗi dịp Tháng Tư, là thời điểm người lính có lệnh buông súng đầu hàng rồi xếp hàng vô tù, ngồi cúi mặt để mặc kẻ thắng trận huyênh hoang chửi lên đầu.

Tháng Tư nào ta không soi mòn nỗi nhớ
Nỗi nhớ mênh mang rải khắp chiến trường
Ta nghe quanh ta đọng từng hơi thở
Thằng mất thằng còn cùng cảnh gió sương…

Nỗi nhớ quê hương, nhớ chiến trường, nhớ bạn trong quân ngũ khiến người lính Trạch Gầm viết lên bi phẫn, nửa tỉnh nửa say nửa quên nửa nhớ:

Ta về ôm lấy giang san
Lên Tăng Nhơn Phú lật trang sử buồn
Một mình hô nghỉ hô nghiêm
Một mình ta ta lại tìm ra ta…

Sau khi đọc xong tập bản thảo, tôi đã thúc giục Trạch Gầm cố sửa chữa những lỗi chính tả rồi xuất bản để nhiều người được đọc. Theo tôi biết thì tậm trạng của Trạch Gầm cũng là tâm trạng chung của những người lính trẻ có mặt nơi hải ngoại và ở ngay trong nước. Họ bị đẩy ra chiến trường từ lúc họ chưa được võ trang đầy đủ sự hiểu biết về ý nghĩa của cuộc chiến, về bạn và thù và tại sao phải đánh đuổi cộng sản. Do đó có những người lính tuy chiến đấu dũng cảm chỉ bởi bắn chậm thì chết. Và có những người lính làm thơ chống lại ngay khẩu súng mình cầm trên tay.

Tập thơ của Trạch Gầm có thể nói là một cuốn sử thi viết về người lính Việt Nam cộng hòa, viết bằng máu khi chiến đấu và viết bằng nước mắt khi phải buông súng. Tôi rất cảm thương người lính Trạch Gầm vì tôi hiểu rằng anh không làm thơ để đi vào lịch sử văn học mà làm thơ chỉ để giãi bầy những tâm sự u uất, phẫn hận và đã trở thành thuốc nổ đang ngày đêm đốt phá tim gan anh. Những dòng thơ của anh là những giòng nước mắt cần được trào ra ướt mặt để con người anh không bị dìm xuống trong lòng biển chất chứa một dĩ vãng bi thảm của đất nước.

ĐỖ TIẾN ĐỨC
Los Angeles, tháng 09 năm 2007



Ðọc Thơ “Vụn Vặt” của Trạch Gầm !

Vừa đi làm về, chưa kịp tắm rửa thì điện thoai reo. Bên đầu giây là tiếng của Trạch Gầm:

– Ông ngủ chưa ?

– Chưa ! Nếu ngủ thì làm sao trả lời, hỏi lãng nhách !

– À! Tôi trù qua bên ông,

– Ðể làm gì giờ nầy cha nội ?

– Ðem tặng ông Tập Thơ mới vừa in xong, tặng ông đọc chơi !

– Bố à ! Mới ra sách thì chờ ra mắt, chờ anh em họp lại vui vẻ chúc mừng, chứ in xong đưa cho thằng này thằng nọ hết thì còn gì là “ngày ra mắt sách” ?

– Ôi! Nhưng riêng ông thì tôi phải đem tới trước …

– Xin tha cho con nhờ, để đó khi nào ra mắt sách thì con sẽ thành kính đem sách về đọc ….

Thế mà tác giả Trạch Gầm vẫn lì lợm đem đến tặng cho tôi. Cử chỉ vừa thân ái vừa giản dị, vừa âm thầm của một người lính “Trinh Sát” làm cho tôi rưng rưng cảm động. Tôi quen biết với người em Nguyễn Ðức Lập, một Hướng Ðạo Sinh và từng tham gia vào những ngày họp mặt tại Thư Viện Việt Nam. Nhưng Nguyễn Ðức Trạch thì là một trường hợp rất khác. Số là người ta có tổ chức chào cờ mỗi đầu tháng tại Tượng Ðài Việt Mỹ. Làm gì thì làm chứ cứ ngày Chúa Nhật đầu tháng thì tôi lại có thói quen đến cùng mọi người đứng nghiêm chào những kỷ niệm, chào quá khứ đã đi qua !

Trong đám người thường xuyên ấy, có một người rất lạ. Anh ta âm thầm đứng ở đâu đó trong công viên, rất nghiêm chỉnh chào quốc kỳ, chào người lính đang im lìm trên bệ, rồi âm thầm ra về, ít tiếp xúc với mọi người và cũng rất ít nói ! Tò mò vì một người kỳ lạ, tôi bèn theo chân quyết khám phá xem kẻ này thuộc thành phần nào có vẻ kỳ bí như thế. Hóa ra anh chàng là một người tù cùng trại với tôi ở Vĩnh Phú ! Nguyễn Ðức Trạch, lấy hiệu là Trạch Gầm, là con trưởng trong một gia đình văn học nổi tiếng ở Miền Nam. Các anh chị em trong gia đình nầy đều được thừa hưởng gia tài văn học của cha mẹ, nên không ai trong họ không có tài sáng tác, hoặc văn, hoặc thơ, phóng sự, làm nghề báo …Trạch Gầm nằm trong dạng một anh chàng thi sĩ gàn, làm thơ rất hay, một câu nói chửi thề hết mấy khúc … Thơ của anh sáng tác ra chỉ để đọc và cho bạn bè nghe trong những lần ngồi chuyện vãn với nhau ở chốn riêng tư. Anh thường đọc những bài thơ sáng tác trong những hoàn cảnh éo le và bi thương nhất của chính anh và của chính quê hương.

Trạch Gầm đọc thơ

Có một lần anh gởi cho tôi qua Email bài thơ mới sáng tác. Sau khi đọc song, thấy hay và làm mình rung động thật sự, tôi bèn chuyển bài thơ ấy cho các báo, đặc biệt là Thời Luận và Sài Gòn Nhỏ. Không ngờ Huynh Trưởng Ðỗ Tiến Ðức, trong thời gian ngắn nhất đã gởi mail cho tôi hỏi về tác giả Trạch Gầm là ai. Tôi gởi thêm những bài thơ hay khác của tác giả, sau đó các bài thơ nầy lần lượt được đăng trên các báo. Hoàng Dược Thảo khi biết Trạch Gầm là con của nữ sĩ, nhà báo – Bà Tùng Long – đã đòi tôi cho bà làm quen. Từ những tri ngộ đó, đặc biệt trong ngày Họp Mặt Cựu Tù ở Paracel Seafood Restaurant, Nhà Báo Ðỗ Tiến Ðức và Trạch Gầm mới lần đầu tiên bắt tay nhau.

Trạch Gầm vốn là một kẻ giang hồ, một chiến binh thầm lặng như cái bóng trong cuộc chiến tranh, có mặt ở tất cả những nơi nguy hiểm nhất và cũng có mặt trong những nơi ăn chơi nhất. Một sĩ quan Trinh Sát gan dạ đầy quyền biến và nghị lực. Có thể nói tất cả những mặt trận nổi tiếng vùng Tây Ninh, Lộc Ninh hay các Vùng III vùng IV, trong thời gian từ ngày anh ra trường khóa 21 Thủ Ðức, anh đều có mặt, là chứng nhân, là lính hoạt động thám kích, ban đêm bò vào lòng địch, ban ngày ăn chơi xả láng ở phố phường … Những bài thơ từ anh có khí khái của kẻ giang hồ, có hơi men của tình bạn thủy chung, của những trăn trở da diết cho định mệnh của chính mình và của đất nước. Chúng tôi khuyến khích anh xuất bản tập thơ là một khó khăn vì anh không muốn trưng bày như những thi sĩ. Anh tâm sự với bạn bè rằng thơ của anh chỉ để đọc lúc tàn cuộc vui. Mà nghĩ cho cùng khi tập thơ “Vụn Vặt” được in ra, nó đã nói lên được tất cả con người của anh.

Nhà văn Ðỗ Tiến Ðức mới quen Trạch Gầm, đọc thơ Trạch Gầm, cảm thơ như thế nào mà khi viết “Lời Bạt” đã để hết tâm tình và cảm xúc của mình vào bài viết đến độ tôi đọc lên cảm động lạ thường. Hèn gì người xưa thường nói, thường ca tụng về sự đồng cảm, đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu của kẻ sĩ. Lời Bạt mở đầu cho tập thơ là một bài ca, một nhạc khúc, quyện lấy những giọt thơ đầy xúc động. Ðỗ Tiến Ðức đã không quá cường điệu khi viết rằng thơ của Trạch Gầm là tập “Sử Thi” !

Thơ Trạch Gầm là một diễn tiến lịch sử, là những ghi nhận và cảm nhận xót xa vào thời gian và không gian mà mỗi chúng ta đều dự phần trong đó. Ðọc thơ của anh, ta thấy hình như ta đã sống và đã viết ra chứ không phải chỉ là của tác giả. Bây giờ ta thử đứng trước khu Nghĩa Trang để nghe Trạch Gầm tâm sự xem có phải là chính ta cũng đang tâm sự với người bạn mình đã rời cuộc chiến:

… Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không …
(Lời Trước Nghĩa Trang)

Bạn có thể thấy hình bóng mình khi đọc bài “Một Ngày Của Ta”:

… Một ngày của ta ở tuổi ba mươi,
Ta mất quê hương … ta mất hết rồi
Bạn bè của ta có thằng tự sát
Bạn bè của ta có đứa ra khơi
Ta quảy thân tù từ Nam ra Bắc
Long Giao, Van Bàn, Vĩnh Phú Lào Cai
Ta gặp quê hương lưng tròng nước mắt
Thương xót cho ta thương xót mọi người …

Là một người lính ngoài biên, sống rất thật với bạn bè, tác giả dùng những từ ngữ thật chính xác khi diễn tả tâm sự của mình. Với bạn bè thân thiết hay với những thằng sống chết cùng chia thì anh xưng mầy với tao. Những bài thơ nào anh viết bằng giọng văng ngang tàng mày với tao chính là những lúc tình cảm bốc cao và những u uẫn, những đắng cay chia xẻ với từng người mà anh cho là chiến hữu:

… Ngày Bầu Lồng tao vào đồn thăm bạn
Xách trên tay chiếc cane đế Hốc Môn
Uống một ít … nó chừa cho ngày Tết
Tết chưa qua, nó tan biến theo đồn.
Tao còn có … có trăm điều để nhớ
Mỗi một điều cạn một chén thương đau
Mầy cứ trải poncho rồi ngồi xuống
Thay thằng chết rồi … cạn chén cùng tao …

Với 230 bài thơ, trong đó có bốn bài được phổ nhạc, người bạn tôi đã dẫn dắt chúng ta từ khi bước vào cuộc đời, quỳ xuống đứng lên ở KBC 4100, ra biên giới, chứng kiến bạn bè nằm xuống, chứng kiến kẻ địch bên bờ chủ nghĩa với gương mặt đời. Có thể nói thơ Trạch Gầm là một điêu luyện thì cũng không ngoa vì anh đã dùng ngôn từ bình dị đễ diễn tả một cuộc chiến cũng không kém phần “du côn” đầy dẫy hố hầm, bãi mìn của vô lý và bạc ác ! Hãy đọc “Vụn Vặt” vì những lời thơ vụn vặt nầy sẽ làm cho tình cảm của chúng ta sống lại những gì mà trước kia đã đánh mất. Ðại ca Phan Bá Thùy Dương đã viết những giòng rất ngắn nhưng đầy đủ để diễn tả Trạch Gầm sau bìa tập thơ, thật cô đọng và hoàn toàn chuẫn xác về thi sĩ giang hồ nầy… “Có thể bút hiệu Trạch Gầm mang ý nghĩa một con rắn âm thầm dưới dòng sông nổi giận phải gầm thét. Từ lúc nó gầm thét, nó hóa thân thành một con rồng của thời đại đầy bão tố đã qua !”

LÊ TAM ANH



Tháng Tư Đen đọc thơ Trạch Gầm

Đinh Lâm Thanh


Tôi yêu Trạch Gầm cả Thơ lẫn con Người. Những gì anh viết, chính là niềm đau của một người lính phải tức tưởi buông súng đầu hàng, chính là uất hận của một kẻ phải bỏ nước ra đi sau những năm tháng tù đày và cũng chính là nỗi xót xa đối với đồng đội đã một thời gắn bó với anh. Tôi yêu con người, vì anh thật xứng đáng một cấp chỉ huy, tuy sống dưới chế độ tự do nhưng không bao giờ anh quên những người bạn sống chết với nhau đã nằm xuống hay còn kẹt lại ở quê nhà. Đời binh nghiệp của anh thật khiêm nhượng với vài ba ‘mai vàng’ dừng lại trên vai, nhưng trong lồng ngực của anh, mãi mãi là một trái tim vĩ đại mà anh đã trân trọng dành cho đồng đội đã hy sinh cho màu cờ tổ quốc và những phế nhân còn sống sót dưới chế độ cộng sản. Anh xứng đáng ngửng mặt lên khi nhìn lại những cấp chỉ huy lớn, những ‘vì sao’ đã rụng xuống ‘boong’ tàu của hạm đội Mỹ trước giờ mất nước ! Rồi 34 năm nay họ đã làm được gì cho đồng đội, thương binh, cô nhi quả phụ cũng như cho quê hương và dân tộc ? Và cứ mỗi năm, vẫn áo mũ chỉnh tề nhắc lại chiến công một thời vang bóng. Nhưng có mấy vị nhớ đến thuộc cấp của mình là những người đã hy sinh xương máu để đem lại những huy chương hiển hách trước ngực cũng như những ngôi sao lấp lánh trên cổ áo !

Nhắc đến Trạch Gầm là nói đến con người của tình cảm, luôn nặng tình với quê hương, ray rứt cho cuộc chiến và ấm ức vì đầu hàng… Tất cả những trăn trở đó đều chất chứa trong thơ của anh. Đọc thơ Trạch Gầm độc giả nhận ra ngay trong con người anh là một khối tình gắn bó thiết tha với đồng đội, là ân sâu nghĩa nặng đối với bạn bè, là những người đã nằm xuống hay bị lãng quên dưới chế độ cộng sản.

Cách đây hai năm, tôi gặp Trạch Gầm trong một ngày nắng ấm tại quán café Tip-Top trên đường Westminster, Sàigòn nhỏ, Cali. Anh đọc cho nghe bài thơ ‘Lời Trước Nghĩa Trang’. Chưa dứt bốn câu đầu, anh đã bật khóc và làm tôi phải khóc theo trước ngạc nhiên của số thân hữu bạn bè. Thật khó tưởng tượng nổi, hai người đàn ông 65 và 71 tuổi đã khóc như một đứa trẻ khi nhắc đến những người bạn đã nằm xuống. Rồi hình ảnh Trạch Gầm với những giọt nước mắt bên tách café vẫn ngày đêm ám ảnh và gây xúc động mỗi khi tôi cầm cuốn Vụn Vặt trong tay.

Những lời thơ viết về tình đồng đội của anh đã kéo ký ức tôi trở lại quảng đời dĩ vãng mà trong thời Mậu Thân 1968, tôi đã sống trọn vẹn với những người lính thuộc trung đội tác chiến tại vùng rừng núi Quảng Đức. Những người bạn nầy đã ra đi nhưng họ vẫn sống mãi bên tôi và phù hộ cho tôi còn sót đến ngày hôm nay. Tôi xin mượn mấy câu thơ của Trạch Gầm để tưởng niệm những người lính đã nằm xuống :

Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương

(Lời trước nghĩa trang)

Cũng từ bài thơ nầy Trạch Gầm gởi đến với những người đã nằm xuống chân dung của anh trong những ngày tháng vô vị nơi quê người

Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không

(Lời trước nghĩa trang)

Kỷ niệm để đời với Trạch Gầm là tuyển tập Vụn Vặt, cuốn thơ vừa lấy từ nhà in chưa ráo mực, anh đã biếu tôi và từ ngày đó đến nay tôi vẫn chưa đọc xong. Mỗi lần cầm cuốn thơ lên vừa nghiền ngẫm vài giòng thì tôi bị cuốn vào tâm trạng của tác giả… đau buồn cho vận nước, xót xa vì cuộc chiến và tiếc thương những người bất hạnh, rồi nước mắt tôi cũng xóa mờ những giòng chữ. Đa số thi nhân thường mượn các đề tài tình yêu nam nữ để tìm nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trên 100 bài thơ trong tuyển tập Vụn Vặt, Trạch Gầm đã dành gần như đa số bài để nói về những gắn bó về tình huynh đệ, tình cảm của người trai thời chiến và để tưởng niệm đến đồng đội đã ra đi…

Những ai đã sống chết với đồng đội, đã cùng băng rừng lội suối, ngày đêm truy lùng địch thì mới cảm thông được tình thương gắn bó với nhau. Cuộc đời người lính chiến không có gì quý hơn ngoài chiếc ba lô độc nhất trên người, tấm ‘pông-sô’ thay mái ấm gia đình và việc kết nghĩa anh em đồng đội như tình thân ruột thịt. Họ là những người trai thời chinh chiến, hiến dâng cuộc đời cho tổ quốc non sông, thương tật, sống chết không biết sẽ đến bất chợt bao giờ. Đối với họ trên đầu là tổ quốc, trước mặt là kẻ thù, hai bên là đồng đội và sau lưng là chiếc ‘băng-ca’ hay cổ quan tài đang chờ sẵn ! Hãy nghe Trạch Gầm viết về số mệnh:

Một thoáng theo mây rơi dài nước mắt
Khóc nỗi bạn bè…lưu lạc bốn phương
Thằng mất thằng còn – Nổi trôi vận nước
Giọt ngắn giọt dài ướt đẫm quê hương

(Vụn Vặt)

Những ai đã qua đoạn đường gian khổ với những lúc hành quân, lội sông, bằng rừng, vượt núi trong rét mướt, trong đói khát, trong gian khổ, ngày đuổi giặc, chiếm mục tiêu, đêm ngủ ngồi ngay tại hố cá nhân để chờ địch thì mới thấm thía được những cảnh:

‘Bi-đông’ nước bùn chia sẻ
Gói mì nhai vội chuyền tay
Chuyển nhau điếu thuốc cháy dở
Sống chết biết giờ nào hay
(Cho nhau, Thơ Đinh Lâm Thanh)

Để rồi từ đó những người con yêu quý khắp mọi nẻo đường đất nước đã trở thành anh em ruột thịt một nhà. ‘Pông-sô’ cùng ngủ, cơm chung nón sắt, nước một bi-đông, miếng khô chia đôi thì việc đùm bọc sống chết với nhau vẫn là một cái gì thiêng liêng của những người khoác chiếc áo trận.

Em còn chia xẻ cùng anh
Nỗi xót xa tự ngọn ngành đau thương
Vẫy tay giã biệt chiến trường
Một ngày cũng đủ cô đơn suốt đời

(Hỏi)

Đối với bạn bè còn sống, Trạch Gầm đã giải bày tâm sự về những năm tháng nơi đất khách quê người :

Mầy hỏi tao bây giờ sống ra sao
Cơm áo tha phương có phải nghẹn ngào
Gần mười năm tù còn in trong trí
Hay…cháy rồi giữa đất rộng trời cao
… Tao gởi về mầy một trang giấy trắng
Thật lao đao mầy cứ tự vẽ vời
Nơi tha phương trăm hội đoàn yêu nước
Tao ngu ngơ…không biết khóc hay cười

(Trả lời)

Rồi những đêm mưa vùng Cali, anh trăn trở như hổ nhớ rừng:

Mầy nhìn mưa mầy nhớ gì không hở ?
Tao nhìn mưa tao cứ mãi nhớ rừng
Rừng của quê hương những ngày khói lửa
Tao, bao năm dài cặm cụi hành quân
Mầy nhìn mưa…mầy nhớ gì không nhỉ
Tao nhìn mưa…Tao nhớ quá bạn bè.

(Từ cơn mưa dài)

Và cái ‘đau’ của anh vẫn vây quanh cuộc sống :

Tao bây giờ không tiền mua rượu uống
Mà vẫn say…say ngút với nỗi buồn
Nhìn thiên hạ tranh nhau quyền yêu nước
Mấy chục năm ròng – Nước vẫn tang thương !

(Nói với bạn bè)


Mầy có tin không quê hương đã mất
Giữa lúc bọn tao nguyên vẹn hình hài
Đâu thuở quân trường đâu thời huấn nhục
Để nhận lấy ngày khốn nạn hôm nay
Một lũ đàn anh tan hàng cuốn gói
Bỏ mặc bọn tao đứng khóc dưới cờ
Món nợ tang bồng bao giờ trả nổi
Mất cả sơn hà cứ tưởng như mơ
Giờ chẳng dám nhìn ngay vào mắt Mẹ
Cũng chẳng đủ lời tâm sự cùng Cha
Đành đến thăm mày những thằng đã chết
Ngày…quê hương còn lắm nỗi thiết tha

(Lời trước Nghĩa Trang)

Ít thấy anh đề cập đến tình yêu đôi lứa cũng như những mộng mơ tuổi trẻ, mà nếu có, anh cũng mượn những mối tình vụn vặt để nói về thân phận đau thương đất nước cũng như những mất mát thời chiến tranh:

Anh có mẹ gì đâu mà để tặng
Một món quà sinh nhật cho em
Gặp gỡ thôi…dăm ba lần thất hẹn
Còn nhớ ngày anh còn tỉnh…chưa điên
Là thằng lính cứ rày đây mai đó
Có nhớ thương, cũng đỏ mắt phố phường
Chiếc võng tòn teng ôm đời chinh chiến
Có em vật vờ đở bớt cô đơn

(Quà sinh nhật cho người yêu)

Viết về Trạch Gầm mà không nhắc đến những chữ Đ.M. trong thơ của anh thì thật thiếu sót. Một vài người cho rằng nghe không được êm tai qua hai bài thơ:

Đọc thơ mầy…
Đ. M, tao buồn muốn khóc
Tao chẳng còn là tao, tao chẳng nên người
Mấy chục năm rồi tao lạc lỏng chơi vơi
Dù trước đó
Tao có triệu anh em chung màu áo trận
Tàn cuộc chiến…
Hình hài tao nguyên vẹn
Mười năm tù xem tựa giấc chiêm bao
Tao còn tay còn chân. Còn nỗi tự hào
Chỉ tội cái…mang ước mơ lần lựa
Cứ chờ đọi Ai cho tao nhúm lửa
Nơi tha phương tao hốt toàn tro tàn
Tro bụi từ quá khứ vinh quang
Đến nỗi đầu óc tao ung què, tao chẳng hề hay biết
Đọc thơ mầy
Đ. M. tao buồn muốn chết
Nơi quê hương mầy hào khí ngút trời
Nơi tha phương…
Tao cũng có lắm người
Yêu nước thật thà, thật thà yêu nước
Rắn không đầu, mạnh thằng nào nấy thét
Ngày cứ tàn, đất nước cứ tan thương
Hai chữ tự do sấp ngữa đoạn trường…
Tao ôm chặt lội qua ngày khốn đốn
Mầy cần súng mà tao không có súng
Nỗi nghẹn ngào nầy mới chết mẹ tao
Cám ơn mầy
…Ừ thì cũng dù sao
Nhờ mầy thét Trăm hồn sông núi thức

(Đến cùng Nguyễn Cung Thương)

Những ai đã sống đời quân ngũ, sống chết với đồng đội thì mới cảm nhận hai chữ Đ.M thoát ra từ miệng của người lính. Đối với người Miền Nam, hai chữ nầy không có nghĩa là một câu chưởi thô tục mà trong thân tình giữa bạn bè thường được xử dụng một cách thân thương. Tôi còn nhớ rõ câu nói của một đệ tử cũng như người bạn, người em theo sát tôi trong các cuộc hành quân. Một đêm trong rừng Quãng Đức, anh vén tấm ‘pông-sô’ chui vào hỏi tôi :

– Đ.M. ông thầy húp canh không ?”

Tôi hỏi lại :

– Đ.M. canh gì đó mầy ?”

– Thì Đ.M ! Canh nước mưa với bột ngọt chớ có gì nữa !”

‘Ca’ (ly bằng nhôm của lính) canh nóng thật ngon, chỉ có nước mưa pha với bột ngọt nhưng tôi thấy ấm bụng và cái mặn mà đang chạy vào tim phổi ruột gan, không biết vì bột ngọt hay chữ Đ.M. thân thương nằm trong chén canh của người lính !

Nhưng một trường hợp khác, Trạch Gầm lại xử dụng hai chữ Đ.M, để chưởi cha bọn cộng sản. Tôi biết anh không còn ngôn ngữ nào để diễn tả nỗi uất hận trong lòng, dù hai chữ Đ.M. nầy thật đúng nghĩa và hợp thời nhưng vẫn chưa lột hết ý nghĩa để chưởi bọn bán nước cướp của, hại dân hại nước, đem giang sơn bán cho Tàu cộng ! :

Đ.. má, cho tao chưởi mầy một tiếng
Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu
Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng
Đảng của mầy, chết mẹ… đảng tào lao
Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng
Cầm súng làm gì… chẵng lẽ hiếp dân
Tao không tin lính lại hèn đến thế
Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâm
Mầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngỏ
Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin
Môi liền răng à thì ra vậy đó
Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh
Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước
Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu
Thân phận mầy cũng là Lê là Nguyễn
Hà cớ gì…. mầy hèn đến thế sao
Chuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến
Mầy chết rồi, tao nghĩ chẳng đất chôn
Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi
Cứ đà nầy… chết tiệt còn sướng hơn
Đàn gãy tai trâu…. xem chừng vô ích
Giờ mầy nghe tao chưởi còn hơn không.

(Cho tao chưởi mầy một tiếng)

Tôi tin rằng những độc giả nào đã đọc thơ Trạch Gầm cũng sẽ Yêu Trạch Gầm như tôi vậy.

Paris, Tháng Tư Đen 2009
ĐINH LÂM THANH


Đọc thơ Trạch Gầm


Nguyễn Mạnh Trinh
Có một người làm thơ đã cảm khái khi đọc xong tập thơ Trạch Gầm

Thức dậy đi – cõi mộng ta
Cuộc binh lửa chợt vỡ òa nỗi riêng
Dấu giày trận đã trăm miền
Trăng cổ sử vẫn còn nghiêng tháng ngày
Tưởng thời súng khoác trên vai
Mịt mù khói lửa dặm dài bước chân
Mấy chục năm chuyện phù vân
Giở trang thơ chợt tần ngần nỗi xưa…

Thơ Trạch Gầm. Là quặng nguyên sinh cuộc sống hôi hổi hơi ấm nhân sinh. Thơ tha thiết bởi những nỗi niềm ấp ủ. Dù rằng, cuộc chiến đã qua mấy chục năm, nhưng trong ký ức, vẫn đầy ắp tâm sự. Trong ngôn ngữ, có hào sảng chiến sĩ. Trong vần điệu tràn dâng chất chứa tấm tình. Một người lính, sống lại thời binh lửa mình. Một người bạn, nhớ về đồng đội cũ, người còn kẻ mất, trong thơ đồng vọng nỗi nhớ thương. Thơ Trạch Gầm, thơ của thời chiến tranh đọc trong thời hậu chiến, như dong tay trở về thời đại cũ, năm tháng xưa. Thời gian đã qua, đã coi như mất biệt trong cuộc sống nhưng vẫn còn hiện hữu trong những người cảm khái giơ û từng trang thơ. Có chút lành lạnh của đất trời len vào trong vần điệu tưởng tượng đến những ngậm ngùi thiên cổ, những giấc mơ của một thời thanh xuân đã tàn phai. Thơ không nuối tiếc nhưng đầy tràn cơn bão nội tâm dằn vặt.

Không hiểu sao, khi phác họa chân dung người lính, chúng ta hay thường nghĩ đến hình ảnh phảng phất men rượu, của “bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi/ dục ẩm tì bà mã thượng thôi/ túy ngọa sa trường quân mạc tiếu/ cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Hình ảnh của Vương Hàn trong Lương Châu Từ đã thành một phiên bản chung. Nhưng ở thơ Trạch Gầm, men cay chỉ là một chất xúc tác, để nhắc về, và nhớ tới kỷ niệm. Không văn hoa, thơ rượu vẫn có âm vang của đời sống thực. Người lính đâu có muốn đóng vai kép độc anh hùng. Họ là một người bình thường trong cuộc chiến, yêu đồng đội coi đơn vị như mái ấm gia đình mình. Và vì thế họ chiến đấu dưới cờ, và mãi đến mấy chục năm sau vẫn còn tình còn nghĩa, như mấy câu thơ của “Nỗi nhớ vẫn y sì”:

Uống đi mày cứ làm thêm vài chén
Nhớ đừng say còn nghĩ đến Anh Em
Những thằng bạn của một thời chinh chiến
Đổi mạng mình… để lấy sự bình yên
Rượu mừng xuân , lưu vong.. mùi cũng lạ
Thiếu nụ cười đến ngơ ngác, ngác ngơ
Đâu có cảnh chụm đầu cười ha hả
Trong gian nguy mặc sống chết đợi chờ…

Rượu, có khi dành cho người vắng mặt, cho những kỷ niệm quá khứ đã xa. Ngồi một mình, úp một ly. Cho đồi Tăng Nhân Phú. Cho đồi Miền Đông đất đỏ. Cho ba cô gái gọi là Tam Nương Phú Lợi. Cho vùng ngoài Biên Giới. Cho Bình Long rực lửa. Và kết cuộc một cơn say

Úp một ly.. sao còn một ly ngửa
Phần của mày .. không đợi nổi ngày vui
Chuyện thường thôi, chuyện rất thường mày hở
Biết thế nhưng tao cứ vẫn ngậm ngùi,

Thơ tự nhiên, không màu mè son phấn. Thơ luận sự đời trong men cay, hào sảng, giang hồ. Sao trong cuộc đời này có nhiều hào sĩ. Nguyễn Bắc Sơn, Vũ hữu Định,Trạch Gầm.. Và bây giờ, có lý gì đâu quá khứ tương lai. Hiện tại phút này là nâng ly khề khà kim cổ sự…

Những địa danh, trong thơ Trạch Gầm, như những vòng nôi tưởng nhớ. Nhựng trận đánh không quên , những bạn bè anh em nằm xuống, những kỷ niệm của máu và nước mắt của một thời binh lửa. Những tên tuổi, tên vùng, tên đất , tên người , mỗi khi nhắc lại, là một nhói đau, là một bồi hồi không dứt

Tao với mầy đạp chân qua bao bến
Bến Nẩy , Bến Mương, Bến Dược, Bến Đình
Đất Củ Chi nầy… mỗi lần nhắc đến
Đã đến rồi… thằng nào lại nỡ quên
Dân đánh đấm bọn mình thường lắm bạn
Địa danh nào chẳng có đứa đâu lưng
Có lắm lúc khề khà trong lửa đạn
Lại lắm khi ngồi cạn chén rưng rưng
Vào Trung Lập lại nhớ thằng Đỗ Bảy
Địa phương quân mà mun quá là mun
Vào cõi chết ỉ ôi cùng chia chết
Cầm súng lên rồi… trời đất bằng vung
Vào Tầm Lanh lại nhớ thằng Cương Địa
Bắt tay cười Võ Trường Toản ngày xưa
Mầy mò tới đâu thì tao tới đó
Dân Trinh Sát mà – bảo sợ – còn khuya
Vào dinh quận gặp thằng Ngôn Quân Báo
Mở bản đồ tìm điểm tối ăn sương
Gót Chảng, Hố Bò, Bầu Đưng, Thái Mỹ
Kéo trăng hạ tuần làm đuốc soi đêm
Gọi tên bọn mầy nhớ ơi là nhớ
Mỗi một địa danh… ấp lẫm ngậm ngùi,

Người lính Trạch Gầm cũng có vài ba mối tình, cũng có lúc “khi lính đã yêu rừng tàn núi lở”. Nhưng, từ cổ chí kim, tôi chưa thấy ai “mày tao” với người tình như ông thi sĩ lính này. Tuy xưng hô mộc mạc như thế nhưng tràn đầy tình nghĩa.

Ừ gặp mày lòng tao vui thật đó
Mày có bề gì tao mất người thương
Mày đã cắp của tao từng nỗi nhớ
Như sao trời ăn cắp những giọt sương

Tao ở tù lâu, mày lấy chồng cũng phải
Tao ra tù… mày bán máu… đãi tao
Miếng bông băng trên khủy tay run rẩy
Tao khóc đã đời… mày hiểu tại sao

Ngày tao tha phương mày bỏ đi mất
Tao cô đơn như con sói lạc bầy
Tao mất quê hương lòng đau như cắt
Mày buồn hơn tao, phải vậy không mày?

Tao còn sống là tao còn vẫn nhớ
Ắt hẳn là.. mày cũng vậy phải không?

Là độc giả, tôi có cảm tưởng rằng Trạch Gầm đã có một tri âm tri kỷ chứ không chỉ giản đơn là có một người thương , một người tình. Dù chuyện kết không vui, nhưng cuộc tình đó có phải là một chứng tích rõ ràng của một thời kỳ tao loạn Việt Nam?

Là người lính, ai mà chẳng có lúc xài giấy “năm trăm” hay “một ngàn” trong ngôn ngữ khi lòng nổi cơn tức giận. Trạch Gầm cũng thế, trút nỗi thịnh nộ lên những tên Cộng sản bán biển dâng đất cho Tàu cho đế quốc Bắc Phương. Có người cho rằng mang tiếng chửi vào văn chương sẽ làm hạ thấp giá trị của nó. Nhưng tôi không nghĩ vậy ở trường hợp này. Là một người đã mang dóng máu Việt Nam thì không thể nào không phẫn nộ với loài bán nước. Cái xúc động của một người đã mang áo lính với tiếng chửi thề biểu tượng cho tình yêu nước nồng nàn của một chiến sĩ bộc trực. Tâm trạng ấy dễ dàng chia sẻ với những người cùng suy tư cùng yêu dân tộc yêu đất nước:

Đụ má cho tao chửi mày một tiếng
Đất của Ông Cha sao mày cắt cho Tàu
Ngậm phải củ gì mà mày cứng miệng
Đảng của mày, chết mẹ, Đảng tào lao
Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng
Cầm súng làm gì… chẳng lẽ hiếp dân
Tao không tin lính lại hèn đến thế
Tao rụng rời… trước tai ách ngoại xâm
Mầy vỗ ngực – Anh hùng đầy trước ngõ
Sao cứ luồn cứ cúi cứ van xin
“Môi liền răng” à thì ra vậy đó
nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh
Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước
Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu
Thân phận mầy cũng là Lê, là Nguyễn
Hà cớ già mầy hèn đến thế sao
Chuyện mày làm Toàn Dân đau như thiến
Mầy chết rồi tao nghĩ chẳng đất chôn
Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi
Cứ đà này… chết tiệt còn sướng hơn…

Thơ tự nhiên bằng ngôn ngữ đời thường và biểu hiện được tâm tư một cách chân thực. Không bóng gió, lời thơ mạnh mẽ quất thẳng vào đối tượng như những quả đấm chính nghĩa ngàn cân.

Là người tù sau ngày bại trận, tuy cam chịu số phận nhưng vẫn ngang tàng không đánh mất tư cách chính mình. Ở Hoàng Liên Sơn, vẫn ngất ngưởng tâm tư , vẫn thơ vút cao lên trên thân phận. Thơ như một xác định chỗ đứng:

Lội suối băng rừng bao ngày mài miệt
Có mỗi quê hương ta đánh mất rồi
Nghe lời nhọc nhằn ta buông tay súng
Đứng giữa quê Cha ta khóc đã đời
Bây giờ nơi đây đất trời mù mịt
Ta tròng vào ta trăm tội vô duyên
Ngươi lải nhải đi- giáo điều mù tịt
Ta vẫn là ta… nỗi nhớ triền miên
Ta “kể” tội ra ta cười muốn chết
Ngươi như thất thần có phải vậy không?
Đúng là ta mà , ta dân Thám Kích
Đã từng rượt ngươi mờ mịt núi sông
Ta chỉ buồn ta , ta là dân Việt
Hoàng Liên Sơn này đáng lẽ của ta
Ngươi nói trăm điều: một điều không biết
Ngươi là thá gì mà… cải tạo Ta?

Những câu thơ, rồi những bài thơ, in đậm nét trong tôi những ấn tượng. Chia sẻ, có. Cảm xúc, có. Tôi hình tượng ra con đường mà thế hệ chúng tôi đã đi. Làm lính, làm người tù binh, làm người lưu lạc tha phương, chúng tôi hình như cùng nhau một mẫu số chung của dân tộc, của đất nước. Có khi chúng tôi mượn thi ca để nói lên nỗi niềm của riêng mình nhưng là đồng vọng của số đông cùng cảnh ngộ. Thơ có khi là một cách thế để sống còn, để qua đi những cơn bão giông thời thế. Tô Thức ngày xưa trong Nam Hành Tiền Tập Tự đã từng ví von rằng ông chỉ viết khi có những điều chất chứa trong tim trong óc nếu không viết ra như một giải tỏa tâm linh thì không thể nào chịu nổi. Không biết tôi có nghĩ quá không khi cũng cho rằng thơ của Trạch Gầm, lời của Trạch Gầm.Thậm chí cả đến những tiếng chửi thề bộc trực trong diễn tả, cũng là kết quả của những điều tâm sự chất chứa trong tâm trong óc đến nỗi nếu không làm thơ viết ra thì cũng không thể chịu đựng nổi…

NGUYỄN MẠNH TRINH
(10/2010)


Lính hạch lính


Nguyễn Đạt Thịnh

Ngày chiếm được Nam Việt, Việt Cộng giam giữ quân nhân VNCH, hành hình họ trong những trại tập trung mà chúng gọi là “trại cải tạo”; chúng giam những người lính Tâm Lý Chiến lâu hơn những người lính khác, vì chúng biết giá trị của một nhạc sĩ Nhật Trường, một thi sĩ Tô Thùy Yên, một ký giả Huy Phương, nhiều khi quan trọng cho chiến trường hơn giá trị chiến lược của một tướng lãnh.

Không ai phủ nhận được sự thật hiển nhiên là những bài thơ, bài hát ca tụng người lính chiến miền Nam đã sống suốt 35 năm nay, và đã khiến con cháu chúng ta hãnh diện mặc quân phục VNCH, dù chỉ mặc quân phục để lên sân khấu ca tụng cuộc chiến đấu của cha, anh mình ngày trước.

Cũng ở tù như những bạn đồng đội khác, anh lính chiến gẫy súng Trạch Gầm sống ở Cali, và cầm bút làm thơ. Nhiều bài thơ của anh “quạo” lắm. Tôi thích 2 câu: “Ð.M. cho tao chửi mầy một tiếng/đất của cha, ông sao mầy hiến cho Tầu.”

Lần này anh lính Trạch Gầm làm thơ hạch anh lính Việt Cộng. Thơ rằng:

Là bộ dội nhân dân…
Sao mầy đi bảo vệ
Một lủ đầu trâu hút máu Đồng Bào
Một lủ dầu trâu hiến đất cho Tàu
Tác quái lộng hành… giam người Yêu Nước
Tổ Quốc lâm nguy sờ sờ trước mắt
Non nước đang cần Bộ đội Nhân Dân
Cần những thằng đã từng nặng lời thề thốt
Quyết tử để Tổ Quốc sống còn
.

Trước ngày “bể dĩa” Trạch Gầm không phục vụ trong ngành Tâm Lý Chiến, anh là một đại úy đại đội trưởng bộ binh, băng rừng lội xuống với trên trăm anh em chiến sĩ trong đại đội. Tôi không biết ngày đó anh đã làm thơ chưa, nghe loáng thoáng thì anh là con một người trong làng báo Sài Gòn.

Dù Trạch Gầm làm thơ trước hay sau 1975, thì thơ của anh cũng vẫn nổi bật giữa những vần thơ thương mây, khóc gió, và chúng (những bài thơ của Trạch Gầm) có thể mang một giá trị trên chiến trường Việt Nam ngày nay, nếu được phổ biến trên một trong 3 trang mạng Bauxite Việt Nam, Talawas và Ðối Thoại, những mạng nhiều độc giả nhất đang hoạt động trong quốc nội.

Ðược phổ biến rộng rãi, bài thơ vô cùng thống thiết “Bộ Ðội (của) Nhân Dân?” Trạch Gầm vừa viết, dù chưa tạo được tác dụng của tiếng sáo Trương Lương làm người lính Việt Cộng buông súng, thì cũng gây được cái ngờ vực mà ngày xưa Trịnh Công Sơn (TCS) đã gây ra trong tâm tư người lính VNCH, khiến họ bớt hăng say giết giặc Cộng để bảo vệ miền Nam.

TCS mô tả cuộc chiến chống xâm lăng của chúng ta bằng câu, “20 năm nội chiến từng ngày,” cuộc “nội chiến” đến sau “1,000 năm nô lệ giặc Tầu; (và) 100 năm nô lệ giặc Tây.”
Trạch Gầm bảo anh lính Việt Cộng:

Ừ cứ cho mầy có lòng yêu Nước
Bởi mầy từng thề…
Quyết tử cho Tồ Quốc trường tồn
Trong truyền thống
Mầy tự hào hai lần đánh tan hai Đế Quốc
Ừ cứ xem mầy là…
Bộ đội của Nhân Dân…

Trong chiến tranh
Không thằng lính nào không bước qua xác chết
Không thằng lính nào không rơi nước mắt khóc bạn bè
Những lúc ngồi im…
Trên chiến trường vừa ngưng tiếng súng
Tao tin rằng…
Mầy cũng có những giây phút tái tê

Bạn mầy chết
Bạn mầy què quặt
Nó đã hy sinh cho đất nước, cho giống nòi ( ? )
Có lúc nào bình tâm…
Mầy nghỉ lại thử coi
Giải phóng đách gì…
Độc Lập Tự Do mấy chục năm rồi…
mà toàn dân vẫn khổ

Mầy kiểm điểm, mầy phê bình….
Trên xương chồng máu đỏ
Cộng sản ra là… đốn mạt thế sao
Bọn tự xưng bần cố nông…
Lảnh đạo mầy ngày nào
Lận lưng mỗi đôi dép râu
Sao bây giờ chúng lại giàu đến thế…


Trạch Gầm nhắc lại cuộc chiến ngày trước:

Tao với mầy từng đánh nhau trăm trận
Không thằng lính nào hèn trước mủi dạn lằn tên
Nhưng thằng lính nào mà không mơ ước
Đất nước có ngày bình yên
Mầy cầm súng… trong hoàn cảnh nầy…
Mầy biết làm gì chứ?… Mầy hử?

Trạch Gầm muốn anh lính Việt Cộng làm gì? Không lái chiến xa cán trên sinh viên biểu tình tại một Thiên An Môn Việt Nam? Hay anh đòi họ đứng dậy, làm cuộc đảo chánh cần làm để chấm dứt một thời ô nhục, tụt hậu, một đất, mất biển?

NGUYỄN ĐẠT THỊNH


Lời cho anh, cảm nghĩ khi đọc tập thơ
(viết từ những Vụn Vặt – Trạch Gầm)


Cuối cùng tôi cũng phải từ giã Cali, nơi mà đã cho tôi những lần hội ngộ, cứ mỗi lần trong chuyến đi thật vội vã tôi lại có cơ hội gặp gỡ thêm một vài khuôn mặt mới quen thuộc, chuyến đi này tôi đã gặp Trạch Gầm, một nhân vật mà tôi đọc thơ quê hương của Anh rất nhiều, thơ viết về Người Lính QLVNCH , viết về một hoài bão mà suốt đời Người Lính hằng đeo đuổi và ôm giấc mơ làm đứa con của Mẹ nhưng đã không tròn vì vận mệnh đất nước đã cuốn trôi đi … Biết đến thơ Trạch Gầm là những ngày tôi còn lang thang trên Việt Báo, tôi thường vào trang thơ tình Khiêu Long mỗi ngày, ngoài ấp yêu những vần thơ của Khiêu Long tôi lại còn được dịp thưởng thức thêm những vần thơ hay của các tác giả khác mà nơi trang thơ Khiêu Long, anh thường hay sưu tập. Lúc đầu với cái tên Trạch Gầm nghe rất là lạ lẫm nhưng sau vài lần đọc thơ TG, tôi đã cảm những lời thơ TG, lời thơ bằng nước mắt như đổ ập vào hồn tôi và tâm tư không kém, thơ TG có tất cả, có người tình bé nhỏ và có cả quê hương, một quê hương với nước mắt nhọc nhằn mà trong đó có tôi hiện diện. Lúc ấy tôi chưa biết Trạch Gầm là ai sao lại có những vần thơ làm người đọc xúc động không ít khi vận mệnh đất nước đang chìm vào khói lửa . Tôi đã khóc với Lời trước nghĩa trang của Anh như một lời trần tình với người bạn cùng là một chiến hữu như anh đã nằm xuống

Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mày nhìn thấy đau thương
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương ..

Mày đã hơn tao vì mày đã chết
Hưởng chút lễ nghi, hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không

Mầy có tin không, quê hương đã mất
Giữa lúc bọn tao nguyên vẹn hình hài
Đâu thuở quân trường đâu thời huấn nhục
Để nhận lấy ngày khốn nạn hôm nay

Một lũ đàn anh tan hàng cuốn gói
Bỏ mặc bọn tao đứng khóc dưới cờ
Món nợ tang bồng bao giờ trả nổi
Mất cả sơn hà cứ tưởng như mơ

Giờ chẳng dám nhìn ngay vào mắt mẹ
Đành đến thăm mày những thằng đã chết
Ngày .. Quê hương còn lắm nỗi thiết tha


Lời thơ của TG rất thực, rất gần gũi và rất thấm từ những nỗi đau, ngồi ở băng ghế nơi phi trường để chờ đợi chuyến bay , thế là tôi khóc, và lại đọc tiếp trang thơ Trạch Gầm, với Đêm Giao Thừa của Lính

Một
Tại Cầu Cần Lê Bình Long

Bày ra mày … Một vài chai rượu đế
Giữa núi rừng còn hưong vị nào hơn
Đón Giao thừa cạn những ngày chinh chiến
Mai hoà bình rồi mỗi đứa một phương
———————————————
——————————————–

Chừa vài chén cho những thằng nằm xuống
Gọi nó về cùng ngồi uống cho vui
Chừng nào rảnh nhớ về thăm bọn nó
Giặc Cộng còn, mình còn lắm ngược xuôi ….


Hai
Tại Bolsa tha phương

Tao đã có bao đêm giao thừa xa xứ
Được tự do suy nghhĩ cũng đã đời
Nhớ bọn mầy nhớ bắt khùng nỗi nhớ
Lạc lõng tựa chừng viên đạn mồ côi
——————————
——————————

Thèm quá mất một góc trời đất mẹ
Đêm giao thừa quanh quẩn chuyện đao binh
Chuyền hơi ấm mỗi bình đong rượu đế
“Ráng lên em” mai mốt sẽ thanh bình

Đón thanh bình như bọn mình thảm quá
Mất đất trời mờ mịt cả quê hương
Chừng nào nhỉ được một ngày hối hả
….vắt mồ hôi lau mặt lại chiến trường ? ….

Ngoài thơ viết về đời Lính, hồn thơ Trạch Gầm còn man mác giao động qua bài thơ Hỏi viết với người tình, đọc để thấy lòng mình rưng rưng vì chính tôi cũng từng là người yêu của Lính

Hỏi

Em còn chia sẻ cùng anh
Nỗi xót xa tự ngọn ngành đau thương
Vẫy tay giã biệt chiến trường
Một ngày cũng đủ cô đơn suốt đời

Em còn thắp sáng nụ cười
Trên khung cửa sổ mọc mời thưở nao
Đã làm cây cỏ xôn xao
Đã làm Phú Nhuận chao vao cả hồn

Em còn không hả em thương
Dòng sông nước mắt quê hương rối bời
Anh đi mang nỗi bồi hồi
Anh về chết giữa giọt đời nhớ thương

Em còn không hở em thương
Mười năm xa cách quê hương …. em còn

Và tôi lại càng yêu thơ Trạch Gầm hơn qua bài thơ Nỗi Buồn mất trí

Trong nỗi buồn mất trí
Ta thấy mình ngu si
Cúi lượm lời than thở
Tháng ngày vừa biệt ly

Bạn bè bao đứa trôn
Chia đôi bờ dại dương
Ta một mình ở lại
Gặm đã đời đau thương

Quê hương vừa cuối mặt
Ta quên mình là ai
Chồng lên vai tủi nhục
Bao dặm trường chông gai

Nhớ ra ta là Lính
Từng hát bài tự do
Bài ca vừa tắt thở
Như than hồng hoá tro

Tựa lưng con phố mởi
Đếm thầm bao cô đơn
Ta có trăm ngàn tội
Đánh mất rồi quê hương ….! ! !


Thơ Trạch Gầm mỗi bài không dài lắm nhưng chính vì thế mà tôi thích đọc vì đó cũng đủ nói lên những gói ghém chân tình trong từng con chữ của Anh, những con chữ thiết tha của một tâm hồn còn mang ước mơ một đời chưa trọn. Tôi yêu Lính có thể vì thế mà đón nhận những dòng thơ Anh thật dễ dàng, sâu cảm

Mưa tha phương

Hôm nay mưa thả dài xuống phố
Em đến sở làm hay quấn chăng
Mắt có hững hờ qua khung cửa
Dể thấy bỗng dưng trời thật gần

Ngày xưa mình gặp trên phố núi
Gió bụi mưa ngàn riết cũng quen
Chừ đây mưa dài theo nỗi nhớ
Có còn tha thiết ở trong em

Ta quen phố núi từ mưa đạn
Đội biết bao là nỗi đau thương
Bất chợt em từ trời ngơ ngác
Cùng ta chia nỗi buồn quê hương

Từ đó ta mơ dài phố núi
Giữa mưa thương cả quán bên đường
Gió rừng nâng tóc hôn lên má
Ta núp mình trong nỗi vấn vương

Hôm nay mưa thả dài xuống phố
Dẫm ướt hồn ta trời tha phương
Chợt dưng ta thấy trời xa lạ
…..bỏ cả thân quen lạc giữa đường

Tiếng phi cơ bắt đầu cất cánh sau tiếng loa phát thanh, tôi với tay tìm seatbel cột lại thật chặt, mắt tôi nhắm nghiền … Tôi biết tôi vừa bỏ lại trời Cali một chút nắng vàng êm ả và tình nguời Cali hôm nay vẫn mãi hoài sâu đậm trong nỗi nhớ khôn nguôi…. Vẫy tay chào Cali, chào tất cả những lưu luyến làm vấn vương hồn tôi rong lúc này… Vẫy tay chào Anh, Người Lính Chiến hào hùng một thưở… Bài ca nào còn vất vưởng bên tai tôi để nói về Anh, về người con yêu của Tổ Quốc …Tạm biệt Anh nhé … Trạch Gầm

MIÊN THỤY
Viết trong đêm
24-09-2008





Trạch Gầm: Vụn Vặt
Tập thơ tái bản liền sau vài tháng phát hành


Nam Lĩnh

Tiếng gầm của “Trạch” quả đã làm rung chuyển thế giới người Việt tị nạn khắp nơi trên thế giới. Không phải chỉ hồi phát ra tiếng gầm vào năm 2007 mà cho đến nay tiếng gầm ấy còn vang vọng, xa hơn, ảnh hưởng nhiều hơn, ngoài sự tưởng tượng của mọi người.

Không ngoa đâu:

Một nghìn cuốn thơ 230 trang của Trạch Gầm đã được mua láng chỉ trong vòng 2 tháng phát hành và ra mắt tại Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam. Tác giả không ghi giá bán vì nghĩ rằng chạy tiền in thơ tặng chiến hữu sa cơ của mình. Ðơn giản như chính con người của vị sĩ quan trinh sát qua Mỹ sau nhiều năm lao tù Cộng Sản.

Anh không chịu nhận tiền “mua thơ”. Thơ mà sao bán mà sao mua? Kỳ quặc.

Ký giả Thanh Huy mời Trạch Gầm lên 1 chương trình TV phỏng vấn, dặn anh mặc đồ… “đàng hoàng” (ngầm ý cà vạt cổ cồn), anh giận, không trả lời và không tới cuộc phỏng vấn.

. Nhạc sĩ Quang Lãng đóng bộ cho anh nhân dịp cùng xuất hiện trong show ra mắt CD ca nhạc, trong đó có mấy bài thơ của anh được phổ nhạc và thu CD. Anh tỏ ra khó chịu, tới ngày ra mắt, vẫn lè phè như chẳng có chuyện chi…

Người như thế và thơ cũng thế. Trong các buổi ra mắt tại Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam và Houston, Texas, nhiều đàn anh trong văn giới cũng như thân hữu đã đồng ý rằng “Thơ Trạch Gầm rất thật, làm thơ mà như nói tỉnh bơ, không uốn éo, kiểu cách, ra cái điều…”

Nhà văn Ðỗ Tiến Ðức nhận xét: “Tập thơ của Trạch Gầm có thể nói là một cuốn sử thi viết về người lính Việt Nam Cộng Hòa, viết bằng máu khi chiến đấu và viết bằng nước mắt khi phải buông súng. Tôi rất cảm thương người lính Trạch Gầm vì tôi hiểu rằng anh không làm thơ để đi vào lịch sử văn học mà làm thơ chỉ để giải bày những tâm sự u uất, phẫn hận và đã trở thành thuốc nổ đang ngày đêm đốt phá tim gan anh. Những dòng thơ của anh là những dòng nước mắt cần được tràn ra ướt mặt để con người anh không còn bị dìm xuống trong lòng biển chất chứa một dĩ vãng bi thảm của đất nước.”

“…Một ngày của ta tron tuổi hai mươi
Quê hương của ta khói lửa ngập trời
Cơm áo nhà binh ta vào cuộc chiến
Tìm lấy tự do bằng chính mạng người
Ta quen Bình Long, ta quen Quảng Trị
Vuốt mặt bạn bè chết giữa gió sương…”

Tự giới thiệu mình như thế, Trạch Gầm bắt đầu kể lại những ngày đời lính của anh. Ðời lính của anh trên chiến trường dầu sôi lửa bỏng:

Nhớ không Anh những tháng ngày Bình Long
Cõi chết vào ra đã mấy mươi lần
Và… nơi đó trận mùa hè đỏ lửa
Ðất yên bình ca hát giữa núi sông
Viên đạn nào tự Anh đưa Anh
Vào nghìn thu vào giấc ngủ yên bình
Hồn Chinh Chiến xót xa đời chinh chiến
Mộng vỡ rồi… ôi giấc mộng đang xanh!!!”

hay:

Ta muốn kể lại người nghe một chuyện
Từ Tây Ninh ở rừng khóc giữa cô đơn
Ðịa danh nào không dấu giày Người nhỉ
Sóc Con Trăng, Bổ Túc đến Kàtum
Suối Bà Hào, suối Ðá Yêu, suối Kiết
Nhớ ai bằng… nhớ lính Biệt Ðộng Quân
Thân bách chiến có ngờ đâu Người nhỉ
Trời tha phương lưu lạc đến bạc đầu…!
Quê hương mất cớ sao mình… còn sống
Cứ hỏi hoài, mà giải thích làm sao?”

Ðời lính của anh ở những vùng lửa đạn bàng bạc từ đầu chí cuối tập thơ. Lúc cùng em gái hậu phương hẹn hò tình tự, lúc ở trong lao tù Cộng Sản hay phải biệt xứ lưu đày trên quê hương xa lạ, lúc nào cũng thấp thoáng dáng dấp của người chiến binh bất hủ, bất bại Việt Nam Cộng Hòa…

Một thoáng theo mây rơi dài nước mắt
Khóc nỗi bạn bè… lưu lạc bốn phương
Thằng mất thằng còn. Nổi trôi vận nước
Giọt ngắn giọt dài ướt đẫm quê hương

Phan Bá Thụy Dương nhận xét:

“Thơ Trạch Gầm tiềm tàng phong thái, tâm tư của một kẻ phiêu bạt, lưu lạc giang hồ. Mỗi bài thơ, mỗi dòng thơ của anh đều thể hiện những hình ảnh, kỷ niệm của quá khứ về bằng hữu, về những địa danh đã từng ghi chấu chân anh trong hơn 10 năm phục vụ dưới cờ với thân phận, nhiệm vụ của một người lính quân báo.

Anh đã xử dụng ngôn ngữ đơn giản để sáng tạo nên những vần thơ nhẹ nhàng, trong sáng, đầy chân tình bằng một thi pháp vững vàng, điêu luyện.

Trạch Gầm làm thơ và gia nhập làng báo Sàigòn rất sớm. Anh là một trong những người làm thơ rất nhanh mà tôi quen biết như cụ Hà Thượng Nhân và các anh Bùi Giáng, Tường Linh, Trần Tuấn Kiệt…

Làm thơ đối với anh như là một nhu cầu tự thân để trang trải, giải trừ những giao động, ám ảnh của tâm hồn và Vụn Vặt là sự kết hợp của ý niệm đó.”

Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, trong buổi ra mắt tập thơ Vụn Vặt, đã nói rằng Trạch Gầm làm thơ như nói chuyện, ngôn ngữ trong thơ Trạch Gầm nó không phải nặn óc, moi đầu ra mới có hay cần phải uốn nắn, chải chuốt cho kêu. Trạch Gầm làm thơ như nói chuyện, nơi đời thường với bạn bè, người thân.

Giáo sư Phạm Cao Dương thì cho rằng thơ Trạch Gầm nó gần với mọi người, nhất là những người đã bao lần thổn thức vì nỗi bi thương cuối cuộc chiến. Ông cầm thi tập và nói “quý vị giở ra bất cứ trang nào cũng gặp một người lính Việt Nam Cộng Hòa đầy đủ hình ảnh hiên ngang khi đối mặt với quân thù, đến khi buông súng dù ngẩn ngơ không biết tại sao nhưng vẫn không bao giờ quên được kỷ niệm chiến trường, tình chiến hữu của thời trai trẻ.

Với những người gốc nhà binh, Trạch Gầm không phải là ai xa lạ mà đó chính là họ. Hay nói khác đi, Trạch Gầm đã nói lên nỗi lòng của họ…

Ta chửi thề nhiều từ khi vào lính
Ông chef ta thường… mẹ kiếp mấy em
Làm quan gì sao ngơ ngơ ngáo ngáo
Cứ đà nầy còn sống được mấy đêm
Lại mẹ kiếp dưới tay toàn hảo hán
Xem đất trời nhỏ xíu tựa cái vung
Ðạn tìm người, ngu sao tìm… không ngán
Dư giờ ư, tìm hai tiếng hào hùng
Lệnh đầu hàng cả bọn cùng mẹ kiếp
Ðánh đấm gì… sao có chuyện hôm nay
Chữ nghĩa ởm ờ, người không ra ngợm
Thôi về quê mần ruộng sống qua ngày…”

Ngay từ ngày ra mắt Vụn Vặt hồi năm 2007, Trạch Gầm nói ai muốn “mua thơ” thì ông tặng cho Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam vì “anh em thiếu phương tiện tài chánh”. Các thiện nguyện viên cho biết họ đề nghị mỗi tập thơ $15.00 cộng với cước $5 hạng priority mail 2 ngày tới. Bạn mua tập thơ này, nhà phát hành chuyển hoàn toàn 100% về cho Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam.

Mua bằng check, đề trả cho Thời Báo Magazine và gởi về PO Box 2317, Westminster, CA 92684. Ðiện thoại (714) 651.8018.

NAM LĨNH



Người lính và nhà thơ Trạch Gầm

(Lời bạt cho thi tập “Ráng Chịu”)


“Đọc Trạch Gầm “nhỏ nhẹ” xin phép anh nón cối:

“Đụ mạ, cho tao chửi mầy một tiếng,
Đất của cha, ông, sao mầy hiến cho Tàu?”

Tôi thấy đại úy Trạch vô cùng lính, mà cũng vẫn vô cùng thi sĩ. Chỉ có nhà thơ mới viết được hai chữ “đi em”, thường khi khó nghe, bằng những nét bộc trực dễ thương của anh thi sĩ xăng đá.

Độc giả, nhất là độc giả cựu ca ki, cười ngất thích thú. Họ thích vì anh dùng ngôn ngữ của họ, nói giúp họ những cảm nghĩ giận dữ trước cảnh Việt Cộng liên tục hiến đất, hiến biển cho Tàu; anh chụp hình được nét xăng đá cộc cằn mà bộc trực, rộng lượng, vị tha, dễ bỏ qua của người lính miền Nam, dù đôi khi có giận dữ “đi em” anh Vi Xi dội mưa pháo vào thành phố giết đến cả phụ nữ, bô lão và trẻ em vô tội.

Độc giả ca ki còn thấy bức hoạt họa vẽ chính mình trong những cơn mưa mùa lê thê không bao giờ tạnh, với điếu thuốc hút đến những ly cuối cùng làm đôi môi lạnh thâm hôn trên lòng bàn tay giá buốt; Trạch Gầm viết:

“Rừng Tây Nguyên mưa dặt dài thúi đất
Đôi giày sault chèm bẹp suốt tháng dài
Điếu thuốc ướt mèm, hôn tay se thắt
Khói súng khơi dòng… lửa đạn mù bay.

Nhưng Trạch Gầm chỉ xăng đá với Vẹm; anh ngẩn ngơ và tin là cụ thi sĩ Nguyễn Du cũng ngẩn ngơ như anh trước người đẹp Trưng Vương; anh viết:

Nguyễn Du cắn bút ngẩn ngơ
Tìm đâu nữa nhỉ… nàng thơ đây rồi
Mắt Trưng Vương sáng nụ cười
Người Trưng Vương đến… đất trời ngẩn ngơ”

Tôi hoàn toàn chia với Trạch Gầm cái ngẩn ngơ Trưng Vương: ngày còn hơi trẻ, 32 năm trước, tôi cũng ngẩn ngơ với Phượng (trong chuyện ngắn Đôi Mắt Phượng), mặc dù mới chi bị “mắt” Trưng Vương thôi miên, chớ chưa bao giờ được ngẩn ngơ với “người” Trưng Vương.

Tôi thích câu Trạch Gầm xin phép anh Vi Xi cho Trạch chửi anh ta một tiếng; tôi chia với Trạch giây ngắn ngẩn ngơ nhận ra là mình hôn lòng bàn tay mình khi đóm lửa của điếu thuốc tàn đốt lóng tay; và tôi vừa thú nhận ở trên là tôi cũng chia giấc mơ Trưng Vương với Trạch.

Tôi và một triệu lính khác cũng đã cùng khóc khi Trạch “khóc hết sức thật thà” vào phút “tổng thống” ra lệnh buông súng. Trạch viết:

Em cho phép,
Nhưng không bao giờ em biết
Một ngày thôi, một ngày thật của ta
Ta đã khóc tan hoang, khóc hết sức thật thà
Không khóc vì em mà vì những đứa làm lính


Bài học đầu hàng
Ta không bao giờ tính
Ta đếm lại vết thương thành sẹo bên mình
Có thể với em, ta lẩn thẩn vô tình
Nhưng với quê hương, ta không vô tình thế được
.”

Tôi cũng đã “khóc tan hoang, khóc hết sức thật thà” ngày ông Dương Văn Minh lải nhải đầu hàng, và tôi tin rằng không một người lính nào không khóc trong thất vọng, khóc trong tủi nhục ngày miền Nam bị bức tử, ngày chiến tranh ngã ngũ hết sức vô lý đó.
Viết về thơ Trạch Gầm tôi viết không bao giờ hết, hoặc chỉ cần viết một chữ “thích”; tôi thích thơ anh vì những vần thơ đó đã nói giúp tôi và những người bạn đồng đội khác của tôi, của anh, nói lên những điều chúng tôi không đủ can đảm nói thật như anh.
Và anh Trạch nói rất có duyên, nói bằng vần, bằng điệu.

Xin bạn đọc cũng yêu thơ anh Trạch như tôi rất yêu.”
NGUYỄN ĐẠT THỊNH
Houston tháng Tám 2009


Thơ Trạch Gầm


Bùi Bảo Trúc


Tôi không đi lính một ngày nào, nói theo Phan Nhật Nam, tôi không “ở lính” một ngày nào.

Trong khi đó, các bạn cùng tuổi của tôi đã đi Thủ Đức, đã vào Đà Lạt, đã đến Đồng Đế, đã vinh thăng thiếu tá, vinh thăng trung tá, đã lên bàn thờ ngồi, đã giúp cho An Lộc, Khe Sanh… cỏ xanh mướt.

Nhiều người đã đi tù cả chục năm, đã bỏ xác nơi rừng thiêng nước độc.

Tôi ở Sài gòn, cái ốc đảo chỉ thỉnh thoảng mới vọng về tiếng bom B-52, tiếng pháo kích, dăm ba vụ phá hoại…

Tôi vẫn ngồi quán nước, chiều chiều đọc những trang báo mới ra, ở những trang cuối lâu lâu lại thấy tên một người bạn cũ vị quốc vong thân, hy sinh vì tổ quốc. Tôi vẫn sống, vẫn đi làm, vẫn có những thú vui ích kỷ, quên đi những người bạn cùng tuổi.

Có một bài thơ của Đỗ Quí Toàn tôi đọc đã lâu lắm, không thể nhớ hết, đại khái tả cảnh một đoàn quân xa dừng lại để cho những người lính xuống mua nước và thuốc lá trước khi leo trở lại xe chạy ra ngoại ô. Đỗ Quí Toàn viết: “Sống, như thế cũng đã là có tội…”

Nhìn những người lính ấy, ông nghĩ chỉ cần sống thôi, như ông, như tôi, cũng đã là có tội.

Sau những chuyến đi chơi từ Thủ Đức, Biên Hòa về lại Sài Gòn, vài ba lần tôi trông thấy những chiếc GMC chạy ngược chiều về hướng Biên Hòa. Trên thùng sau của chiếc xe 10 bánh, là chiếc quan tài phủ quốc kỳ, hai ba người đàn bà khăn trắng vật vã khóc, những đứa bé cũng khăn trắng ôm bức ảnh của người cha. Gió lộng phần phật, những chiếc khăn trắng bay trong chiều. Chiếc xe chắc chắn sẽ chạy vào nghĩa trang ở ngoài có bức tượng một người lính dáng điệu mỏi mệt, thẫn thờ, cây súng trên đùi. Cái quan tài ấy sẽ được hạ xuống đất, gia đình người lính sẽ trở về, đối mặt với bao nhiêu là khó khăn của đời sống không có người lính.

Năm 1973, trong một chuyến đi vùng 1, tôi theo trực thăng của tướng Ngô Quang Trưởng đến thăm một tiền đồn, tôi gặp một người bạn đóng quân ở đó. Anh dẫn tôi vào thăm chỗ anh ngủ. Tôi thấy một thùng đạn, trong đựng mấy cuốn sách của Camus và Sartre. Gia tài anh chỉ có mấy cuốn sách cũ đó, hai bộ quân phục, mấy bao thuốc quân tiếp vụ. Mấy tháng sau, anh tử trận, chắc đồ đạc chuyển về cho gia đình cũng chỉ có mấy thứ đó…

Sau chuyến đi ấy, tôi thấy tại sao tôi lại cần phải có cái đĩa hát mới của Andy Williams, của John Denver, của Peter Paul and Mary… và vài ba thứ vớ vẩn khác.

Cũng trong thời gian ấy, tôi đọc được của Nguyên Sa những câu này:

Bây giờ khẩu Garant ta mang trên vai
Bây giờ khẩu trung liên Bar ta mang trên vai
Ta mới biết rằng những thỏi sắt đó nặng thế nào

… Bây giờ di chuyển đêm, di chuyển ngày, di chuyển nắng, di chuyển mưa
Ăn không được, ngủ không được, cười không được, khóc không được …

Ông Nguyên Sa thế mà cũng được ở lính ít ngày để biết được những điều đó. Khẩu Garant, khẩu trung liên Bar, mà đến nay tôi vẫn không biết hình thù nó như thế nào, và những thỏi sắt ấy nặng như thế nào. Thì những người bạn cùng tuổi với tôi đều đã quen thuộc với chúng.

Ông Nguyên Sa làm bài thơ ấy để xin lỗi những lầm lỗi trong quá khứ. Những điều nhiều người trong chúng ta cũng cần phải xin lỗi.

Có thể những bài thơ như thế, hay những thơ của Nguyễn Bắc Sơn, của Nguyễn Đức Sơn, của Tô Thùy Yên đã làm cho ông Võ Phiến phải gọi thơ của miền Nam từ năm 54 đến năm 75 là thơ của một thời đại dằn vặt, suy tư, đau khổ, đó là một nền thi ca không tình ái.

Đây là mơ ước của Nguyễn Bắc Sơn:

Mai kia trong những ngày ngưng chiến
Ta chắc rằng không thể yêu ai
Nhà thương điên nếu còn chỗ trống
Xin chiếc giường cho xác tàn phai…

Khi nhẹ nhàng lắm, thì cũng là những câu này:

Kẻ thù ta ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo
Hãy tránh xa ra ta xin xí điều
Lúc này ta không thèm đánh giặc
Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc
Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh
Kẻ thù ta ơi những đứa xăm mình
Ăn muối đá mà điên say chiến đấu
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần xui ngươi khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rồng thiêng uốn khúc
Mang bom đạn chơi trò pháo tết
Và máu xương làm phân bón rừng hoang…

Cái thời đại thi ca thổ tả, thời đại ngôn ngữ chỉ để văng tục đó chấm dứt với biến cố 1975. Những bài thơ sau năm 1975 viết ở ngoài Việt Nam phần lớn chỉ là những bài thơ kiểu như “cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương” của Lý Bạch hay Hồi Hương Ngẫu Thư của Hạ Tri Chương.

Cũng có vài ba tập thơ hay trong thời gian này. Nhưng Alexander Solzhenytsin đã đúng khi ông nói rằng ra khỏi nước Nga, ông không viết được nữa. Joseph Brodsky cũng thế.

Hôm nay, tôi được tác giả Trạch Gầm cho lên đây để nói vài ba điều về tập Ráng Chịu của ông. Ở trang 290 của cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan, Võ Phiến viết về một nền thi ca không trau chuốt. Đó là nhận định của ông về thơ miền Nam trước năm 1975. Nhưng nếu dùng những chữ này của Võ Phiến để nói về tập thơ của Trạch Gầm, tập Ráng Chịu, thì cũng đúng.

Cái tựa của tập thơ không phải là cái tựa người ta thường đặt cho một tập thơ: Ráng Chịu. Đó là một cái tựa không có bất cứ một nỗ lực trau chuốt nào, bất cứ một cố gắng làm đẹp nào.

Tập thơ dùng bài thơ ở trang 32 làm tựa. Ráng chịu vì trót yêu quê hương, vì người thương ta, cũng ráng mà chịu, ráng chịu, yêu người vài ba ngày lại biến mất, rồi lo âu đọc những trang cáo phó, ta vào lính cũng ráng chịu, tin có ngày mai đẹp, bỏ nụ cười vào túi rong choi… ráng chịu te tua, ráng chịu tận cùng, người ráng chịu yêu ta…

Đấy là lối tỏ tình của một người lính tác chiến. Yêu tôi thì ráng mà chịu.

Ráng Chịu là tập thơ của một người lính tác chiến. Tập thơ không hề có một chủ đích lãng mạn hóa, thi ca hóa những tình cảm của người viết.

Đây là mấy câu đầu của bài thơ nhan đề Đóng Quân Giữa Rừng Viết Thơ Tán Gái:

Em khoe, có vú vê mông miếc
Anh khoe, có lon có liếc, huy chương huy chiếc …

Hai câu này làm nhớ một ca khúc có câu “Viết tên người yêu lên ba lô nặng trĩu…” Nghe tội nghiệp biết là bao. Không phải là “Em đi mắt có thơ mùa hạ / má phấn hồng lên dáng phượng hoa” như Đinh Hùng. Em có vú vê mông miếc, ta có lon liếc, huy chương huy chiếc vậy thôi. Anh nhớ em, viết tên em lên ba lô… Toàn những chuyện tầm thường, như lon liếc, huy chương huy chiếc.

Không khí chiến tranh, chết chóc ở khắp những trang thơ của một người từ những năm còn rất trẻ đã lao vào cuộc chiến triền miên bằng ấy năm. Người thanh niên có đôi mắt bướng bỉnh còn rất trẻ ấy trong bức ảnh chụp ở trang 103 khi chàng đeo con cá trên vai đã lăn lộn ở những địa danh chỉ cần nghe cũng đã thấy kinh hoàng. Ở trang 1 là mấy dòng tiểu sử với năm sinh, chính quán và dòng cuối nguyên văn “Khởi đi từ Đồi Tăng Nhơn Phú.”

Tăng Nhơn Phú là một địa danh không ai đã đi qua quân trường Thủ Đức mà không biết. Người quân nhân này sau khi khởi đi từ cái đồi ấy ở Thủ Đức, đã đi không thiếu một nơi nào ở miền Nam, rồi qua mấy năm tù ở chân núi Hoàng Liên Sơn.

Ôi tuổi trẻ quá buồn” như một câu thơ của Thanh Tâm Tuyền.

Có những bài thơ mang hình ảnh của một bút ký chiến trường, những bài thơ khác thì lại lãng mạn rất bạt mạng.

Trạch Gầm dùng ngôn ngữ của đời sống để làm thơ. Mày tao, thằng nọ, thằng kia, phẫn nộ, bực bội, bất mãn.

Làm sao không phẫn nộ khi:

Vợ thằng Dấm đấm ngực tao bình bịch
Chồng em đâu, chết rồi hả anh Hai…

Nhưng cái đáng yêu của thơ Trạch Gầm là những bài thơ tình của ông. Cũng ngất ngưởng như Nguyễn Bắc Sơn đi hành quân:

Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước

Tuy Trạch Gầm là lính tác chiến thứ dữ, nhưng cái khía cạnh thư sinh lãng mạn của ông dường như không bao giờ bỏ ông.

Bài Tạm Biệt Diễm Song nghe rất Lương Châu Từ của Vương Hàn, cũng gió cát, sa trường, cũng ra đi không biết bao giờ về, cũng vài ly tạm biệt.

Trong thơ tình của Trạch Gầm người ta thấy những đau đớn, những tình yêu què cụt, đầy thương tích và không hạnh phúc.

Có một bài thơ của ông được rất nhiều người yêu mến, bài Cho Tao Chưởi Mầy Một Tiếng cũng được in trong tập thơ Ráng Chịu. Bài thơ gõ đúng vào cái dây đàn đang căng lên, nói hộ không biết bao nhiêu người Việt ở trong nước cũng như ở ngoại quốc.

Trạch Gầm đã văng “Đụ Má” ra với bọn lãnh đạo trong nước khi đất đai tổ tiên để lại bị cắt dâng cho ngoại bang. Bài thơ nói đúng được điều suy nghĩ của người đọc nên chưa thấy ai phải nhíu mày phản đối cách dùng chữ sống sượng đó. Hai chữ “Đụ Má” không thể thay thế được bằng bất cứ những chữ nào khác.

Bài thơ này sẽ sống mãi trong tim của những người Việt ở trong cũng như ngoài nước.

Ở những bài thơ khác, Trạch Gầm làm người ta nhớ đến bài Thuật Hoài của Đặng Dung, một danh tướng trong cuộc kháng Minh. Bài thơ buồn nhưng lại rất bi tráng:

Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma

Việc đời còn dài mà nay mình đã già. Đất trời mênh mông thu lại là một cuộc say hát mà thôi. Gặp thời, bọn đồ tể, bọn đánh cá cũng có thể thành công được. Nhưng nếu lỡ vận thì người anh hùng cũng phải nuốt hận. Giúp chúa có lòng đỡ trục trái đất. Tiếc là rửa binh không có đường kéo sông trời. Nợ nước chưa báo được thì đầu đã bạc. Đã bao phen mài gươm Long Tuyền dưới trăng.

Đọc tập Ráng Chịu của Trạch Gầm, tôi bỗng nhớ lại câu của Lý Tứ Tấn một học giả đời Lê khi đọc bài Thuật Hoài của Đặng Dung đã phải kêu lên “phi hào kiệt chi sĩ bất năng”.

Trạch Gầm cũng là một người hào kiệt. Nên ông mới viết được tập thơ cảm động và hùng tráng đó.

Tôi không quen Trạch Gầm, nhưng đọc thơ ông, tôi thấy bỗng thân ngay với ông. Có phải đó là vì:

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất tằng tương thức?
Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau?

Cám ơn Trạch Gầm đã coi tôi là bạn. Cám ơn ông lần nữa về tập thơ mà lâu nay không đọc được tập thơ nào cảm động như thế.

Thơ không thể tóm tất được nên xin mời quí vị ráng chịu đọc tập thơ Ráng Chịu của Trạch Gầm.

BÙI BẢO TRÚC
25-10-2009


Cho tao chửi mày một tiếng


Nguyễn Ðạt Thịnh


Làm thơ, viết văn là vẽ lại tâm trạng của những người sống cùng thời với mình qua cảm xúc của chính mình; bức truyền thần có sống động không, có linh hoạt, trung thực không, là những tiêu chuẩn để chấm xem người cầm bút có thành công hay không. Xuân Diệu vẽ lên cái an nhàn, vô lo của người thanh niên Việt Nam trong những thập niên 1930-1940 với hai câu:

Hôm nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm,
Anh nhớ em, anh nhớ lắm, em ơi.

Vũ Hoàng Chương cũng vô cùng thành công với bốn câu thơ mô tả mối tình gian díu giữa ông với nàng tiên Nâu:

Không em ạ, không còn can đảm nữa,
Không, nguồn yêu, suối lệ cũng khô rồi.
Em hãy đốt giùm anh trong mắt lửa,
Chút yêu thương còn sót ở đôi môi.

Chỉ có ngòi bút của một thi hào mới đủ sức mạnh giúp chúng ta thông cảm với những xúc động vượt thời gian và hiểu một đam mê không còn hợp pháp nữa — đam mê hút thuốc phiện. Hai xúc động vừa trình bày giúp người đọc tìm thấy tâm trạng của người thanh niên tiền chiến, thư giãn, không vướng bận với mọi diễn biến ngoại thân để trọn vẹn sống với trái tim và tật xấu của cá nhân mình. Thế hệ của chúng ta không cho phép chúng ta thu hẹp cảm xúc vào tình yêu và những vui thú lãng mạn, cá nhân được nữa; và thơ không còn là địa hạt riêng của thi sĩ nữa. Hai câu:

An Lộc địa sử ghi chiến tích,
Biệt Kích Dù vị quốc vong thân!

trở thành vô giá vì cô Năm An Lộc đã vẽ đúng tâm trạng của cư dân An Lộc tri ân người lính Biệt Kích Dù chấp nhận chết để bảo vệ mạng sống cho họ. Tôi đã chân thành xúc động đứng trước vài chục nấm mộ của bè bạn đồng đội được vùi nông trong một khoảnh đất được gọi là “Nghĩa trang An Lộc”, đọc hai câu thơ viết bằng sơn đỏ mầu máu trên tấm vách cao không hơn nửa thước. Tôi cũng vô cùng xúc động khi đọc bài thơ “Cho tao chửi mày một tiếng” của nhà thơ trẻ (trẻ hơn tôi) Trạch Gầm. Anh đã vẽ lên tâm trạng của tôi, và tôi nghĩ, tâm trạng của những người trang lứa với tôi, đồng hoàn cảnh mất nước như tôi. Xin độc giả thưởng thức trọn vẹn bài thơ trên để yêu Trạch Gầm như tôi yêu. Ít nhất Trạch Gầm cũng đã văng vào mặt bọn bán nước Việt Cộng những chữ ÐM mà tôi không đủ “chì” để xin phép chúng cho tôi chửi chúng một tiếng, dù tôi vẫn chửi chúng, chửi hàng ngày, nhưng lại chửi bằng những câu văn hoa, bóng bảy chỉ có tác dụng làm nhẹ tiếng chửi.

Một nét khác trong bức truyền thần vẽ trái tim của người lính mất nước là hai câu:

Tao không tin lính lại hèn đến thế
Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâm

Trạch Gầm là một trung úy đại đội trưởng, nhiều năm vào sinh ra tử với trên dưới 100 quân nhân được anh mô tả như “8,000 anh em đất Bái Thượng” của Hạng Võ. Những người lính đó không hèn, dù vị tổng tư lệnh quân đội phản bội họ theo lệnh đồng minh; những người lính đó vẫn không hèn trong suốt nhiều năm dài bị địch sinh cầm trong những điều kiện vô nhân đạo nhất.

Giờ này, 34 năm sau ngày gẫy súng, người lính Trạch Gầm vẫn gầm vào mặt Việt Cộng hai chữ “đi em – (ĐM)” để hỏi chúng Đất của Ông Cha sao mày cắt cho Tàu? Tôi yêu khí phách Trạch Gầm dù mới gặp anh một lần; tôi yêu thơ Trạch Gầm, anh nói giùm tôi, nói mạnh, nói thẳng hơn tôi, những điều tôi vẫn nói hàng ngày.

NGUYỄN ĐẠT THỊNH


Đọc ‘Ráng Chịu’ Của Trạch Gầm !


Lê Tam Anh


Vừa đi làm về đến nhà là nghe tiếng chuông cửa, không biết mấy tên Mễ hay mấy tay bán dạo quấy phá; tôi lén nhìn qua cửa sổ, thì ra Trạch Gầm đang đứng ngoài với chiếc mũ lính thường xuyên trên đầu!

– Chào ông trời con! sao không gọi phôn trước cha nội?

– Gọi làm gì cho mệt! Mới ở nhà in về, đem tặng ông tập thơ coi chơi!

Tôi mời Hắn ngồi, Hắn không ngồi mà đi thẳng vào chào vợ tôi – Hắn vốn là một anh chàng chuyên môn chưởi thề theo kiểu người Nam, nhưng rất ư là lịch sự với phái nữ. Hắn chào vợ tôi – nhà văn Mỹ Hiệp – và sau đó chúng tôi trao đổi với nhau về tập thơ “Vụn Vặt” trước kia và tập “Ráng Chịu” mới ra lò! Vợ tôi ngắm nghía tập thơ và hỏi:

– Anh Trạch nầy! sao người ta vẽ hình của anh có cái đầu lạ quá vậy, tóc tai cọng nào cọng nấy lung tung còn má thì nhăn nhó trông già quá đỗi!

Tôi đỡ lời:

– Ý của họa sĩ là cái đầu của Trạch Gầm chứa đủ thứ trong từng ngăn dưới cái nón nhà binh. Suy nghĩ quá nên da nhăn nheo, miệng mồm xệ ra… Thế mới là thi sĩ, là nhà thơ chứ!

– Chứa toàn tiếng chửi thề thôi ông ơi!

Trạch Gầm cãi, chúng tôi cùng cười…

***

Đây là tập thơ được trình bày rất là thơ hòa với họa. Bìa trước do Họa Sĩ Dương Ngọc Sum cô đọng bởi một họa phẩm đầy ẩn dụ. Bìa sau họa sĩ Lương Trường Thọ phụ trách với cái đầu đầy thơ của một anh nhà binh thất thời…và một đoạn thơ nhớ Thẩm Quyền Ngô Minh Hồng! Tập thơ dầy 150 trang, in ấn đẹp, nghệ thuật trên giấy trắng trang trọng.

Trong suốt những dòng thơ được trình bày xen với nhạc phổ thơ do các nhạc sĩ yêu thơ Trạch Gầm và những hình ảnh lính trận ngày xưa; chưa xem nội dung ta đã thấy tập thơ là một minh họa cho dòng lịch sử đã qua và ngay bây giờ. Trải ra trên nét thơ, âm hưởng chữ nghĩa nhà binh, vừa có tính trong giới anh chị vừa bình dân, lồng trong những danh từ thật chính xác để cào cấu vào thực tế bởi những tiếng chưởi thề vô cùng ức uất, Trạch Gầm đã làm cho ta choáng váng… Thơ của Trạch Gầm không giống như thơ của bất cứ thi sĩ nào, nó mang màu sắc vừa của giới anh chị vừa của một tên thất chí vì lý tưởng của mình bị kẻ thù chà đạp’ Không phải chúng chỉ chà đạp một mình tác giả mà lên cả dân tộc Việt Nam:

Đụ má, cho tao chưởi mầy một tiếng
Đất của ông cha sao mầy cắt cho Tàu,
Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng
Đảng của mầy, chết mẹ… đảng tào lao!…

Cứ xem bốn câu thơ trên đủ thấy cái tức tối trào dâng trong lòng người yêu nước phải phun ra những tiếng chưởi thề. Bài thơ đó đã được mọi người tán thưởng và những tiếng chưởi thề trong thơ Trạch Gầm dể dàng đi vào lòng người mà không bị ai than phiền cũng là một nghệ thuật dùng chữ đúng lúc! Bài thơ chính trong tập thơ Ráng chịu có những câu như sau:

…Ta vào lính, bài học đầu, ráng chịu
cứ thi hành, muốn khiếu nại, làm sau
Mỗi một mạng… đổi được vài ba phút
Chiến trường đau ngập lút, lút cả đầu
…Trang nhật ký người lại thêm nước mắt
Ráng chịu te tua, ráng chịu tận cùng
Bọn ta sống sao Quê Hương lại mất
Xót xa nầy… còn ráng chịu nỗi không
Cắn rướm môi…người nhìn ta chết sững
Tuổi ba mươi mà lịm thế này sao
Bọn ta đổi bao hành trình bằng máu
Lại mất sạch rồi, mất dễ vầy sao
Người còn muốn cùng ta ráng chịu
Lại đạp đau thương, lại kiếm thanh bình
Người đã lỡ rồi làm người yêu lính
Ta đã lỡ rồi mang nợ đao binh

Ta thấy trong Ráng Chịu phảng phất những nét hào hùng của một người cố gắng cúi đầu trước nghịch cãnh chờ thời. Có thể cũng giống như Câu Tiễn phải nằm gai nếm mật để đợi ngày toàn thể dân tộc đứng lên dựng lại ngọn cờ!

Muốn nói hết con người thơ và những nhận xét về Trạch Gầm, ta không thể nào có thể diễn tả đủ bằng một bậc thầy – người ta thường gọi kính trọng là Hà Chưởng Môn – đã đề cập đến Trạch Gầm. trong buổi ra mắt tập thơ Vụn Vặt tại Thư viện Việt Nam năm 2007, tôi có phát biểu về cảm tưởng của mình và diễn tả tại sao con trạch lại biến thành con rồng để ngày đêm gầm gừ trước kẻ thù cướp nước. Hà Chưởng Môn cũng đã hạ bút:

Khi Trạch muốn, Trạch Gầm, Trạch hú
ta muốn nghe cái hú trạch Gầm
Thơ người nếu chẳng lặng câm
cũng nên gầm một tiếng gầm thật to!
Con hùm đã nằm co trong lưới
chẳng gầm lên thật mới dỡ tuồng
anh không hò hét i uông
làm nên quân giữa chiến trường cũng vui
Con hai đứa choai choai vừa lớn
Tuổi làng nhàng mơn mỡn đào tơ
Nếu không gióng trống phất cờ
Trận tiền im lặng như tờ là sao
Chữ liên miên dạ cao chẳng thẹn
chuyện tang bồng xin hen cùng ai
N ếu như tiền chẳng đã xài
Có đâu đủ hẹn cái tài trượng phu
Cam làm kẻ ngu phu ngu phụ
Biến thế gian làm nụ cười tình
Nhiều khi mình tự hỏi mình
Có ra gì nữa cái hình phù du
Trong cuộc chiến dù thu thắng lợi
Ta đâu cần thất bại thành công
Hơn nhau duy một tấm lòng
Tấm lòng đối với non sông vững bền
Cho nên lúc tiến lên khỏi thẹn
khi lui về đâu hẹn rút lui
Nghĩ xem phút chốc bùi ngùi
Ngọn cờ buông sõng ta lùi vào đâu
Chạy rong khắp năm châu bồn bể
Có cơm no đã kể là nhà
Nhìn nhau thẹn với quốc gia
Không gầm không thét thì ra mình hèn
Trạch ơi Trạch, trắng đen là thế
Trách mấy thằng vai vế lui binh
Tủi hận tấn cuội hòa bình
Cũng hô giải phóng dân thành dân ma.
(Hà Thượng Nhân)

Đọc bài thơ của cụ Hà Chưởng Môn là ta không thể nói gì về nhà thơ Trạch Gầm thêm nữa. Tâm trạng Trạch Gầm cũng là tâm trạng người lính VNCH đã phải tức tưởi buông súng để cho quân thù dày xéo quê hương và tự mình chui vào những trại tập trung để tự nguyện ngồi tù! Đã đọc và tán thưởng Vụn Vặt thì hãy mang về tập thơ Ráng Chịu của nhà thơ mang đầy ắp uất hận, thét lên, gầm lên rất giang hồ, rất con người: Trạch Gầm! Người viết xin chúc mừng “Ráng Chịu” đã ra lò và chúc nhà thơ sẽ cho ra đời nhiều tác phẩm nữa trong tương lai không phải là “Ráng Chịu” nữa mà phải là “Vùng Lên” là “Đạp bằng sóng gió”!

LÊ TAM ANH
cuối tháng 10-2009



Đọc ‘Ráng Chịu” của Trạch Gầm


* Đinh Lâm Thanh

Đối với Trạch Gầm, chỉ có hai cái đáng quý và đáng nhớ trong đời anh: Bạn và Rượu. Hai lãnh vực nầy tuy xa nhưng mà gần, vì uống rượu thì phải có bạn mà gặp bạn thì cần phải có rượu ! Rượu và Bạn được Trạch Gầm trang trọng nhận làm hành trang kể từ lúc anh bước chân vào quân trường Thủ Đức, rồi theo chân anh trên khắp các nẻo đường đất nước. Và cho đến ngày nay, đối với anh, vẫn còn là một cái gì trang trọng và đáng quý nhất đời. Đọc ‘Vụn Vặt’ những người yêu thơ Trạch Gầm sẽ cảm thông được thế nào là ‘tình huynh đệ’ của những ai đã một thời chiến đấu bên nhau, cũng như để tưởng nhớ những chiến hữu đã an nghỉ trong lòng đất hay đang còn lây lất dưới chế độ cộng sản ‘Vụn Vặt’ là những kỷ niệm tình người, được Trạch Gầm dệt thành thơ với lối gieo vần ân tình và giản dị.

Trạch Gầm dùng chữ ‘Vụn Vặt’ làm tựa đề cho tập thơ đầu tay, có lẽ do bản tính khiêm tốn của anh, nhưng tôi cho đó những giòng thơ lớn và chân tình phát xuất từ con tim…vì nó bộc lộ tấm lòng bao la của anh đối với tình yêu quê hương, với bạn bè đồng đội, và cũng trong đó, chính là nỗi uất ức của một người lính đã tức tưởi bỏ súng giữa đường…

Hơn một năm sau anh cho xuất bản tập thơ thứ hai. Lần nầy Trạch Gầm mượn hai chữ ‘Ráng Chịu’ để làm đề tài cho 85 bài thơ và 8 bản nhạc do Quang Lãng, Nguyễn Hữu Tân, Hoa Sông Kiên, Quốc Anh và Yên Ly phổ nhạc. Đặc biệt trong tập thơ nầy, nhiều bài anh viết từ năm 1966 (Tuổi Trẻ Bây Giờ Là Quê Hương), 1970 (Không Đề – Nói Với Người Tình Tuổi Dưới 20 – Viết Từ Lai Khê)… không ngoài mục đích ca ngợi quê hương đất nước, tình yêu thầm kín của tuổi thanh xuân đồng thời nói lên cái thân phận con người trước và sau một cuộc chiến tương tàn.

Ta có một ngày… một ngày ngồi khóc
Ta có một ngày gãy đổ ước mơ
Mười năm lính tưởng đâu là sỏi đá
Ai có ngờ lại ngồi khóc như mưa

… …
Thân lính trận, nhận lịnh gì không nhận
Nhận lịnh đầu hàng…rời rã tai ương
Hồn chinh chiến chỉ còn trơ thân xác
Thân xác không hồn…điếng ngắt cô đơn

… …

Thôi chia tay, mà về đâu đã chứ
Mất hết cả rồi…mất dễ như chơi
Lịch sử sang trang…sang trang lịch sử
Mất cả vinh quang, mất cả ngậm ngùi

Mỗi lần nhắc đến quá khứ anh đều đề cập đến rượu và những người bạn đã một thời cùng chia sẻ sống chết với nhau. Nhưng những ai quen biết đều thấy tội nghiệp cho Trạch Gầm: Rượu lúc nào vẫn còn đó nhưng anh chỉ được phép ngồi nhìn mà thôi :

Xin lỗi mầy, ừ tao xin lỗi
Một giọt bây giờ tao uống không vô
Cái gan tao đã thành gan phá lấu
Mầy không tin, cứ nhậu…ngon ơ !


Bốn câu thơ trên trong bài ‘Ngồi Nhìn Bạn Bè Uống Rượu’ mà Trạch Gầm đã đọc cho tôi nghe lúc anh vừa viết xong, trong một đêm, khi hai đứa nằm dài giữa salon tại nhà ở Anaheim. Nghe đọc, tôi không can đảm nhìn vào mắt anh, dù dưới ánh đèn đỏ trên bàn thờ Cụ Bà thân mẫu của anh, tôi vẫn thấy những giọt nước mắt cứ theo lời thơ tuông xuống. Tôi rùng mình và lòng bỗng dưng chùng lại. Những hình ảnh chia sẻ ‘ngụm rượu tình nghĩa’ với đồng đội trong những lúc ngồi chờ giặc dưới giao thông hào đang hiện về trước mắt và làm tôi bật khóc…

Ngày xưa, mầy tới đâu, tao tới đó,
Nhắc lại à…mà nhắc lại làm chi
Mình rượt giặc, giặc rượt mình…tung tóe
Khi quay về lại chan chát…cụng ly
Ly mầy, ly tao, ly cho thằng chết
Thằng chết rồi mình uống thế được sao
Lính bọn mình toàn những tay hào kiệt

Xô lệch trời đất, xô lệch thương đau
Làm quan, nghèo, mình chơi bằng rượu đế
Lại cợt đùa uống nước mắt Quê Hương
Nước mắt Quê Hương, uống sao cho hết
Ngập núi, ngập rừng ngập cả gió sương
Đã chết rồi giờ tao lại muốn sống
Sống để nhìn chung cuộc một trò chơi
Mầy còn sức cứ mình ênh ngồi uống
Ly cuối, dành cho…thân phận ngậm ngùi.


Xong bài thơ, cả hai đều qua một đêm thức trắng trong tố ấm gà trống nuôi con. Chúng tôi không nói gì thêm, yên lặng và buồn cho vận nước, cho số phận con người cũng như cuộc đời nổi trôi của những kẻ tha phương không có ngày về. Rồi những lần gặp gỡ tiếp theo, anh không được phép uống nhưng ngồi nhìn bạn bè nâng ly, có thể cảnh nầy giúp anh sống lại một thời sống chết với bạn bè đồng đội :

Uống đi mầy cứ làm thêm vài chén
Nhớ đừng say, còn nghĩ đến anh em
Những thằng bạn của một thời chinh chiến
Đổi mạng mình…để lấy sự bình yên

… …

Mầy nhắc trước hay là tao kể trước
Mỗi dấu giày mình khép một mùa xuân
Bù Đăng, Phó Bình, Suối Ngô, Xóm Được
Mười ngón tay, cứ mất từng thằng

Rồi giữa đường gãy cánh, bạn bè thất lạc nhau, kẻ vô tù, người ra đi…

Súng trên tay bỏ xuống
Rõ ngu hơn người ngu
Rồi ôm nhau khóc lóc
Còn rủ nhau vô tù…

Hai chữ ‘Ráng Chịu’, có lẽ anh dùng để tự an ủi cái thân phận thiệt thòi của tuổi trẻ trước vận nước đảo điên, trước cuộc chiến khốc liệt hay để vỗ về những người bạn đã nằm xuống, chết gục trong tù, chìm sâu dưới biển hay dở sống dở chết nơi đất khách quê người…rồi hôm nay được gì hay chỉ còn lại những niềm đau bất tận :

Với Quê Hương, ta một đời ráng chịu
Người thương ta rồi…cũng ráng chịu theo
Lỡ yêu tính năm vài tuần…níu kéo
Chụp giựt không bằng mà vẫn cứ yêu

……
Ta vào lính, bài học đầu ráng chịu
Cứ thi hành, muốn khiếu nại, làm sau
Mỗi một mạng…đổi đuợc vài ba phút
Chiến trường đau, ngập lút, lút cả đầu

……
Cứ ráng chịu. Tin có ngày mai đẹp
Bỏ nụ cười người vào túi rong chơi
Ta xin cả những gì người thua thiệt
…đốt từng trang. Thắp sáng lại cuộc đời

Trang nhật ký người lại thêm nước mắt
Ráng chịu te tua, ráng chịu tận cùng
Bọn ta sống, sao Quê Hương lại mất

Xót xa nầy…còn ráng chịu nổi không
…..

Và ‘Ráng Chịu’ cũng có thể là một nuối tiếc những gì mà con tim thời loạn hằng ước mơ nhưng phải buộc lòng giã vờ làm kẻ ngây-thơ-vô-tình để chấp nhận khoác lên vai món nợ núi sông ! Rồi quả đất tròn, ước mơ trở về nhưng cuộc đời đã rẽ làm đôi, đầu tóc đổi màu… thôi thì đành ‘ráng chịu’ !

Hồi mới quen
Em bảo ta đừng bao giờ xin lỗi
Cắm đầu yêu thì làm gì nên tội…
Một trăm năm có rảnh phút nào đâu
Ta hẹn lung tung, hẹn lần hẹn lữa
Đời ta xuôi ta có lắm bạn bè
Những thằng bạn chia cả trời khói lửa
Chân đạp mòn cả vạn sơn khê…

Có lẽ vì thế mà anh đã vuột mất tình yêu…Cho đến một ngày :

Đêm ngồi nghe em hát
Rối bời sương Cali
Tóc thời gian bạc trắng
Em mang buồn…giấu đi

… …
Cứ hờn anh em nhé
Bằng gợi nhớ đau thương
Anh xa rời cuộc chiến
Như…một chuyện hoang đường

Rồi Trạch Gầm đành phải thú nhận :

Anh kể em nghe tháng ngày phiêu bạt
Đốt đuốc quạnh hiu, tìm kiếm mỏi mòn
Phân nửa mặn nồng lạc từ ký ức
Tặng cho cuộc đời…vượt suối trèo non

Cuộc sống nơi quê người và nguồn yêu thương duy nhất của anh, bây giờ chính là :

Sáng vào trường…
Con ăn hamburger, hot dog
Chiều về nhà…
Con ăn rau luộc chấm tương
Ngồi cùng cha, con ngồi tận Quê Hương
Việt Nam mình…
Một ngày bỏ đi, một đời thương nhớ
Đất Mỹ tư do, cửa đời rộng mở
Con muốn hụt hơi…
Chạy tìm kiếm tương lai
Con đủ khôn ngoan, ôm trọn tháng ngày
Như lòng con…
Vẽ vời trăm điều mơ ước
Rau luộc chấm tương
Cha mong con còn nhớ được
Con có một đoạn đời…
Rất nghiệt ngã, rất đau thương
Đầu óc chết khô
Lúc con đứng giữa thiên đường
Cái thiên đường tối thui của bọn người cộng sản
Con đủ kiến thức chưa,
Hãy soi gương thân phận
Đổi được màu da không đổi được tâm hồn
Cũng thời gian nầy, con cười
Nhưng tại Quê Hương,
Việt Nam mình, bằng tuổi con…
Có triệu người đang khóc
Cha không giải bày, nhưng con hiểu được
Ai bạn, ai thù, ai mở cửa lầm than
Tại sao cha con mình…
Thành những kẻ lưu vong


Xếp tập thơ lại vì cảm thấy đôi mắt hơi cay. Trước mắt tôi, Trạch Gầm với cái điếu cày mà giờ đây anh xem như bình rượu để an ủi trong những ngày còn lại. Đặt ‘Ráng Chịu’ lên ngực và cố dỗ giấc ngủ nhưng những lời thơ của anh vẫn ám ảnh tôi như muôn ngàn tiếng thở dài của người lính bị buộc phải buông súng giữa đường một cách nhục nhã.

ĐINH LÂM THANH
Paris, 14.01.2010


Trạch Gầm


Trương Nghĩa Kỳ


Đụ Mẹ! Cho tao chào mày một cái! Trạch Gầm cười: “Một cái thôi nha!”. Một buổi trưa nao gặp dưới mái hiên nhà, của ai đó, kệ mẹ nó, mình chào nhau cái đã! Trạch Gầm đẹp, đẹp như rừng thay lá, người thay hàm răng – răng giả, cười tươi! Tôi chào anh và anh đáp, chào tôi, hai đứa vẫn như ngày xưa, hồi lính, nhớ ngày xưa có cái duyên tiền định, nhớ không quên bài học thuở làm người, nếu gặp nhau mà không gọi “ai ơi”, thì cứ xáp lại gần nhau hôn môi hôn má, cắn một cái, “ối chà, đau quá”, mới thương hoài… thương mãi ngàn năm!

Trong những nhà thơ, tôi thích nhất Trạch Gầm, anh viết được hai câu thơ bất tử, hai câu thơ đố ai không nhớ: “Em vào Chùa em đi kiếm Phật, anh vào Chùa anh đi kiếm em!”.

Có người nói thằng Trạch Gầm nó điên. Nó hay chửi thề sao lại vào Chùa kiếm gái? Tôi nói không phải đâu, không phải, Trạch Gầm đi vào Chùa đi-công-tác thay tôi! Nó với tôi hai đứa một thời, sống như cỏ và lòng như rơm rác, sau ba-mươi-tháng-tư cỡi mây bay giạt, tắp tùm lum buồn quá nói cho vui! “Vọng Mỹ Nhân” đâu chỉ Một Trời mà muôn hướng thấy đâu Chùa, cứ ghé!

Tôi thích Trạch Gầm có một bài thơ hai chữ mở đầu “Đụ Mẹ”. Nước non mình đã mất, hết thơm tho! Gặp nó sáng hôm nao, tôi không nói ỡm ờ, mà nói thẳng: “Đụ Mẹ! Cho tao chào mày một cái!”. Một cái thôi, đạp đuổi bọn Tàu đi!

Bọn Tàu đi! Bọn Tàu phải đi! Hỡi tuổi trẻ đứng lên, làm Lịch Sử ! Còn chúng tôi – những người tứ xứ – tuổi tàn rồi chỉ biết chửi thề khan. Thương quá nước Nam, để chữ Việt nằm đằng sau, đã khác!

TRƯƠNG NGHĨA KỲ


Người đứng bên nào, hỡi người chăn chiên?


Câu hỏi 8 chữ mượn làm tên cho bài báo này là một câu thơ, mà cũng là một câu hỏi đang xoáy vào lương tâm con người: con chiên đi lạc hay người chăn chiên không giữ vị trí chăn chiên của mình?

Kinh thánh ghi chép chỉ một con chiên đi lạc, người chăn chiên đã phải có mặt bên nó, huống chi cả đàn chiên Ðồng Chiêm đi lạc, nếu họ đi lạc, vị chủ chiên ở đâu mà không thấy bên cạnh họ? Một câu hỏi nữa: những tín đồ Thiên Chúa Giáo Ðồng Chiêm có đi lạc không khi họ liều chết để bảo vệ thánh giá?

Tôi thích thơ Trạch Gầm vì anh không khóc theo trời mưa xùi xụt, không buồn vì gió heo may đang về với tiết Ðông, không thương nhớ bóng “nàng” tha thướt trong dĩ vãng, không đan vần, dệt ý vì người đẹp đi lấy chồng.

Anh làm thơ thời đại, ca tụng những vẻ đẹp của người lính trong cuộc chiến đấu vô vọng để bảo vệ đất nước. Lần này anh tức tưởi hỏi “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ/ Người đứng bên nào … hởi Người chăn chiên?

Câu hỏi có thể bị bắt lỗi là “hỗn”, nhưng Trạch Gầm vẫn có một điểm đáng thương là anh đã chờ quá lâu, chứng kiến quá nhiều cơn giáo nạn, từ Huế, ra Tam Tòa, Hà Nội, Thái Hà, rồi đến Ðồng Chiêm, con chiên cay cực quá nhiều mà vẫn không thấy vị chăn chiên xuất hiện.

Ðành rằng tòa Tổng Giám Mục Hà Nội có ra thông báo chỉ trích công an đánh đập tàn nhẫn tu sĩ Nguyễn Văn Tặng, trên đường vào giáo xứ Ðồng Chiêm hôm 20 tháng Giêng 2010, nhưng trong hệ thống giáo quyền tòa Tổng Giám Mục Hà Nội không hề là quyền năng lớn nhất.

Có thể đó là nguyên nhân khiến thi sĩ Trạch Gầm phải nêu lên ngờ vực đau đớn “ Người đứng bên nào … hởi Người chăn chiên ?

Đồng Chiêm

Con chiên Đồng Chiêm giữ cây Thánh Giá
Bao xác thân nhuộm đỏ cả máu đào
Bao mẹ già quỳ trên dòng nước mắt
Bao trẻ thơ lịm ngất trước thương đau

Việt Nam quê tôi bây giờ thế đó
Vây kín nhà thờ một lũ sài lang
Dạ thú mặt người trơ trơ tráo tráo
Họng súng AK mở cửa Thiên Đàng

Lương tâm không mù… tại sao không thấy
Đã bảo thấy rồi sao cứ lặng im
Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ
Người đứng bên nào… hỡi Người chăn chiên ?

Con chiên Đồng Chiêm… Xả thân vì Chúa
Máu đổ thịt rơi… lệ nhỏ Năm Châu
Một tiếng Công Bằng sao Người không nói
Im lặng là vàng… Người nghĩ thế sao ?!!


Trạch Gầm



Nhà thơ nào cũng ngông; Trạch Gầm ngông trong kỷ luật quân đội, trong tinh thần quốc gia. Có lần anh đã trách những người lãnh đạo miền Nam Việt Nam qua những câu thơ hằn học, cam phận, nhưng đầy phẫn uất, khi nhìn cờ vàng tung bay trên đường Bolsa.

Anh viết:

Cờ bay trên phố lạ
Quặn thắt hồn núi sông
Chân bước mòn nắng hạ
Bão sầu đau ngập lòng

Hãy ôm nhau mà khóc
Nhận lấy phần thương đau.
Ðừng đổ thừa ai cả,
Chỉ bọn mình với nhau.

Tâm trạng người lính thất trận, tủi, giận chuyện cũ, uất ức chuyện mới, gầm thét tức tối vì thế bất lực của mình, Trạch Gầm nói lên tâm tư của người lính, dù quân đội VNCH chưa trao cho anh chức vụ phát ngôn viên.

Tuy nhiên nhiều người lính, trong đó có tôi, say sưa đọc những vần thơ “du côn” mà dễ thương của Trạch Gầm, nhìn nhận anh nói lên ưu tư của chúng tôi.

Lấy tư cách “niên trưởng” trong quân ngũ, tôi đã rầy rà đại úy Trạch Gầm về cái tội hỗn với quý vị chức sắc tôn giáo, hỗn vì hỏi quý vị đó “đứng bên nào?”

Tôi yêu cầu Trạch Gầm sửa lại 3 chữ “đứng bên nào” thành “đứng ở đâu?” nghe nhẹ nhàng hơn.

Tuy nhiên, tôi cũng thỉnh cầu quý vị chủ chiên dù có đứng ở đâu, xin hãy trở về với đàn chiên Ðồng Chiêm, Hà Nội, Huế, Thái Hà, Tam Tòa. Nếu họ lạc hướng xin hướng dẫn họ về với chân lý, và nếu họ không lạc hướng, xin quý vị đứng với họ chịu đựng cảnh bị đánh đập, đàn áp chỉ vì đức tin.

Và xin tha lỗi cho nhà thơ Trạch Gầm, cái lỗi hỗn hào dám hỏi “Người đứng bên nào … hởi Người chăn chiên ?

Nguyễn Ðạt Thịnh
01/2010


Trạch Gầm: Thơ Và Thuốc Lào!

Lê Tâm Anh


Tôi lại được nhà thơ Trạch Gầm tận tay tặng tập thơ mới cáu cạnh, chưa ra lò, còn nóng hổi, vừa thổi vừa… đọc! Tập thơ có cái tên “Dấu giày chinh chiến”, hai tập thơ trước là “ Vụn Vặt” và “Ráng Chịu”!

Lúc rút Tập Thơ trong túi xách ra, anh vừa cười vừa nói với tôi:

– Xin lỗi, bìa sách bị dính nước thuốc lào… đơ quá! Đến thứ Bảy, 12 tháng 10 mới mời bà con bạn bè đọc! Tôi cười:

– Mùi thuốc lào mới là nhắc nhỡ ta luôn nhớ những ngày… tù! Mà anh ra mắt sách ở đâu vậy?”.

– Thư Viện Việt Nam!”

Mùi nước thuốc lào là những “dị ứng” không thể nào có thể quên khoảng thời gian dài cho những ai từng nếm mùi “trại tập trung” của Cộng Sản. Những hình hài gầy guộc, cố gắng chịu đựng cái rét miền Hoàng Liên Sơn, Yên Báy, Vĩnh Phú… đều phải nhờ những “bi” thuốc lào! Hình như nhà thơ Trạch Gầm, đến năm nay, 2013, sau mấy mươi năm xa nhà tù, xa cái đói và rét miền Bắc Việt Nam; anh vẫn hàng ngày xách cây “Ba dzô ca” rít từng hơi ở trong các quán cà phê tại Mỹ. Không phải chỉ vì “ghiền” mà vì anh muốn “nhớ”!

Quả thật! Tập thơ anh móc ra từ túi xách đang nằm lẩn vào chổ của ống điếu thuốc lào. Mùi hăng hắc bốc lên làm tôi nhớ giai đoạn “ghiền” đến nổi phải nhịn cơm đổi vài bi và những cơn say bò vào lò lửa trong những năm còn ở tù với anh… Bên góc tập thơ có vết màu nâu của nước ống điếu. Thế đấy! Những thằng tù từng nằm với nhau trong các trại từ Nam ra Bắc nó thâm tình như thế. Không một lời khách sáo, không một nổi băn khoăn… Chúng tôi là những người bạn, không cần nói gì vẫn hiểu nhau.

* * *

TG4Nhà thơ Trạch Gầm.

Tôi không biết phải “khen” như thế nào về những người bạn đã giúp Trạch Gầm hoàn thành tập thơ. Cầm sách trên tay, tôi có thói quen hay xem trang đầu và trang cuối trước tiên. Trang cuối tập Thơ “ Dấu giày chinh chiến” ghi như thế này:

“Được hình thành qua sự bảo trợ: – Nhóm Trà Quán Bốn Phương Oakland – Nhóm bạn tù K4 Tân Lập Vĩnh Phú – Nhóm Bạn Cà phê Tip Top, Gipsy – Hình bìa và chân dung Trạch Gầm (do Họa Sĩ T.BĐQ họa) – trình bày Yên Ly và Lân SĐ5.”

Như vậy, tập thơ nầy là chân tình của bạn bè cùng khắp góp phần. Đứa con tinh thần “Dấu Giày chinh chiến” của Trạch Gầm được “cha mẹ nuôi” khắp nơi tự nguyện đở đầu. Đặc biệt phần trình bày layout lại là Ca Sĩ Yên Ly – Người tình văn chương của tác giả.

Dày gần 200 trang, chứa 104 bài thơ và 27 bài nhạc phổ từ thơ Trạch Gầm của nhiều tác giả vốn là những nhạc sĩ nổi tiếng! Nữ Sĩ Yên Ly đã bỏ công sức trình bày, điểm thêm vào những hình ảnh một thời khói lửa chiến chinh và những hình ảnh của các “Anh Hùng tuổi trẻ” đang đứng lên đấu tranh cho tự do trong nước! Toàn thể tập thơ toát lên một nét riêng tư rất “Trạch Gầm”! Bức họa chân dung tác giả nói lên hết những gì mà thơ tác giả đã toát ra trên giấy! Nét vẽ rất thật và phản phất mùi thuốc lào hằn in kỷ niệm!

“Tóc đã hóa tro ôm người xa xứ,
Cúi xuống đi em hôn những lời thề,
Như con phố chiều nghiêng mình hôn bóng
Hôn dấu chân xưa đi mãi không về! (TG)

Một trong rất nhiều bài thơ làm tôi rất thích, đó là bài thơ “Nói với củ mì”! Tôi là người sanh ra và lớn lên ngay xứ “củ mì” Bình Định. Lớn lên trong thời chiến tranh chống Pháp 1945-1954, giai đoạn giặc giã và đói. Củ mì là món ăn chính. Thế cho nên bài thơ củ mì của Trạch Gầm làm tôi miên man giữa giai đoạn lịch sử đó với những ngày cùng Trạch Gầm trong các trại tù miền Bắc. Quả thật củ mì đã nuôi chúng tôi, nhờ củ mì mà vẫn sống hiên ngang!

“…Vài nhát cuốc, nắm đầu mầy tao sướng,
Tao mạnh tay mầy phải đứt làm đôi
Hoàn cảnh tao, tao không tha mầy được
Đành nhốt mầy vào gô nước đun sôi…”

Thơ Trạch Gầm, qua hai tập trước – Vụn vặt và Ráng Chịu – đã làm ta sững sốt với những từ ngữ anh dùng để diễn tả thơ. Không gọt dũa, không hoa mỹ, không làm dáng… Và đến “Dấu giày chinh chiến” Anh chỉ dùng những từ ngữ thật và chính xác để diễn ý cho thơ anh! Nghĩ sao viết vậy, không đẽo, không gọt, nhưng rất “ngông”. Cái ngông của một chiến sĩ Thám Sát, cái ngông của một người tưởng mình đã chết nhưng còn sống! Ta hãy đọc thơ Trạch Gầm, hãy ngồi ngắm anh rít một hơi thuốc lào ở một nơi nào đó trong quán cà phê. Nếu có thời gian, hãy ngồi với anh một sáng chúa nhật, nghe anh kể những buồn vui trong thời gian ở rừng Vùng Biên Giới Quân Đoàn III!

Chúc nhà thơ Trạch Gầm vẫn luôn giữ mãi phong độ của người lính chiến thuở nào!

Ngày 2 tháng 10 năm 2013

letamanh


Đọc ‘Vụn Vặt” của Trạch Gầm


* Khư Thị Ngọc Sang


Bài viết của cô giáo Khư Thị Ngọc Sang – vị thầy với cậu học trò – đã gặp nhau cách nay trên 50 năm và ghi lại vài hình ảnh khó quên của thưở xa xưa nói lên tinh thầy trò đáng nhớ. Tuy tuổi hạc đã cao nhưng cô giáo hiện ở Canada vẫn còn nhớ những hình ảnh xa xưa để ghi lại nhân dịp thi phẩm “Vụn Vặt” của cậu học trò chào đời – (Cali Weekly)

 

Học trình Đệ thất đến Đệ nhất, Nguyễn Đức Trạch học với tôi ba năm: Việt văn đệ lục, Sử đệ nhị, và Triết đệ nhất… Trạch không gầm gừ gì hết. Trạch trắng trẻo, mảnh khảnh, thư sinh, bình thường, tuổi mười lăm mười bảy, làm học trò mắt sáng môi tươi…

Một ngày của ta dưới tuổi hai mươi
Ta lang thang đi trên khắp nụ cười
 

Bạn bè của ta ngàn trang sách vở
Bạn bè của ta thành phố Sài gòn

Trạch vừa học vừa chơi:

Lúc trốn học leo rào vào sở thú
Thả bồng bềnh cùng trời đất vô tư

Hết giờ học vẫn la lết chung quanh khuôn viên trường:

Hãy sờ thử vào góc me nào đó
Tao thấy có dấu lưng mày in rõ
Tan trường rồi vẫn tựa mõi bâng quơ

Còn gì nữa quả thật là thiếu sót
Nếu mình quên bao hàng quán bên đường
Chú Xị, bà Năm, thằng Lư bánh cuốn
Tất cả là những ngày tháng thân thương

Trạch cũng mơ ước tương lai trong đó thắp thoáng bóng hình cô nữ sinh Trưng Vương kế cận:

Ta vốn là dân Võ Trường Toản
Nên cách trường Em một tấc đường
Ta lang thang bước hoài không tới

Qua hai cây cầu thì đến trường nữ Lê Văn Duyệt, Trạch giả đò viếng Lăng Ông:

Khói nhang đâu chỉ thấy bóng hồng thướt tha

Khiếu viết văn cũng sớm xuất hiện. Có lần luận văn được Cô cho 10 điểm, dù rằng cô nổi tiếng khe khắt:

Xin trả lại Cô bài văn miêu tả
Một lần về thăm quê ngoại miệt vườn

Có gì lạ đâu nếu ta biết Trạch là con Bà Tùng Long, tiểu thuyết gia nổi tiếng trên văn đàn miền Nam vào những thập niên 50, 60, 70… Thi tú tài 1 cũng ạch đụi một hai lần, Trạch nhắc lại lần vào hạch miệng Pháp văn, cứ chần chừ cho đến cuối không dám bước vô phòng thi, cô làm giám thi hành lang phải đẩy Trạch qua cửa. Trạch nhớ lần thi cá nguyệt Sử đệ nhị, Thống ngồi cùng một dãy bàn, mở sách trong học tủ cho Trạch chép, sau khi nộp bài cho Cô mới biết thằng Thống mở lầm trang !!

Tất cả những giai thoại trên để chứng tỏ Trạch tiêu biểu tự nhiên và bình thường của lớp ‘nhất quỷ, nhì ma,thứ ba học trò.’

Những giáo sư đã dạy Sử cho Trạch thật không uổng công, bởi những trang sử ấy đã un đúc tình yêu quê hương khiến Trạch cả đời hết đem sinh mệnh thì đến đem tấm lòng, hiến dâng cho đất nước.

Trạch đậu Tú Tài 2 rồi “vui chơi” cho đến khi vắng bóng bạn bè, lăn vào chiến cuộc như một số không ít bạn bè cùng lớp trong trường. Cũng từ đó thầy trò bặt tin nhau cho đến hơn 30 năm sau. Năm 1965 Trạch tình nguyện vào quân ngũ, đám bạn thân, thằng Khôi lý la lý lắc, cao lớn đẹp trai nhất nhì trường, giỡn hớt, ăn vụng trong giờ học hơn ai hết, thằng Quang mũ mỹ, hiền lành, cũng vào lính 3 năm trước rồi. Không khí chiến tranh sôi động khiến thanh niên dù còn trên ghế nhà trường cũng ngồi đứng không yên.

Em lội ngược dòng trọn năm dệ nhất
Giữa cảnh quê hương khói lửa tơi bời

Trước sau rồi cũng đến lúc quyết định, thôi thì đi sớm có lẽ còn chọn được binh chủng mình thích:

Một ngày của ta trên tuổi hai mươi
Quê hương của ta khói lửa ngập trời
Cơm áo nhà binh ta vào cuộc chiến
Tìm lấy tự do bằng chính mạng người

Trạch hăng hái lăn vào chinh chiến với động lực thúc đẩy mạnh mẽ: Chinh phục tự do và đem lại thanh bình cho xứ sở. Trạch nhắc lại nhiều lần hai danh từ mầu nhiệm nầy:

Nhớ ra ta là lính
Từng hát bài Tự Do
Trong gian khổ vẫn một lòng mơ ước
Mong Thanh Bình về thắp sáng tương lai

Để chinh phục thanh bình cho đất nước Trạch cắn răng chấp nhận mọi gian khổ, kể cả cái chết của những đồng đội trẻ tuổi và của chính mình

Hai mươi tháng bảy ta rời An Lộc
Bỏ lại sau lưng vô số bạn bè
Bao đứa ngủ yên trong lòng đất mẹ
Cho thanh bình ca khúc hát hoan ca

Mười năm chiến đấu Trạch tham dự vào đa số những trận đánh khốc liệt, đẫm máu: Lộc Ninh, Lai Khê, Xa Cát, Bù Đốp, Bung Cầu, Sóc Con Trăng, Kà Tum… những mùa hè lửa đỏ, những thực tại, những quyết định chớp nhoáng trong súng nổ đạn rơi, máu, mồ hôi, đau thương giữa bạn và thù đang lẫn lộn nhau:

Hai thằng cắn răng bò qua bao xác
Xác bạn, xác thù trộn lẫn đau thương

Cũng không quên nhân đạo khi xử sự với tù nhân và dân chúng nạn nhân chiến cuộc:

Cũng nơi đây ta cứu người con gái
Gởi trực thăng di tản về Bình Dương
Trực thăng nổ khi vừa rời mặt đất
Ta điếng hồn như vừa nuốt phải xương

Cũng nơi đây ta bắn thằng Việt Cộng
Một viên M79 vào hông
Bởi quá gần đạn không kịp nổ
Ta lại phải nuôi nó mấy tháng ròng

Trạch không rơi vào thơ ca chinh chiến cổ điển mà tình yêu trai gái, Em hậu phương, Anh tiền tuyến, mỏi mòn chờ đợi, trong viễn tượng hải hùng Anh về nạng gỗ cụt chân…

Tình yêu xuất hiện trong thơ Trạch như mây bay gió thoảng, đem lại chút mọng mơ, vài nụ cười hóm hỉnh

Anh có mẹ gì đâu để tặng
Một món quà sinh nhật cho Em
Gặp gỡ thôi… dăm ba lần thất hẹn
Dù kết cuộc
Mười mấy năm ròng cơm áo nhà binh
Đổi mạng sống lấy Thanh Bình… cũng không được

Trạch vẫn có quyền hãnh diện về hành trang của một người lính anh dũng.

Một đặc điểm nữa không thể xem nhẹ trong đoạn đời binh sĩ của Trạch, là tình yêu thương đồng đội, kẻ còn đang kề vai chiến đấu với mình cũng như người đã ngã gục. Trạch chia xẻ với chiến hữu từng ly rượu hiếm hoi, từng phần lương khô nuốt cầm hơi qua các trận đánh.

Mấy phần lương khô mấy phần gạo xấy
Chia cho đồng, để sống đến ngày mai
Chừa vài chén cho những thằng nằm xuống
Gọi nó về cùng ngồi uống cho vui

Trạch thân thương vuốt mắt từng chiến hữu vừa ngã gục

Ta quen Bình Long, ta quen Quảng Trị
Vuốt mắt bạn bè chết giữa gió sương

Cho đến ngày được lịnh buông súng, Trạch cũng không quên ghé vào nghĩa trang, chia xẻ niềm tủi nhục và uất hận với linh hồn đồng đội cũ:

Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương

Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi, hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không
Đành đến thăm mầy những thằng đã chết

Thương mến, ân cần với đồng đội sống cũng như chết là điểm son trong tánh tình Trạch.

Tháng tư 75 đen kết thúc bất ngờ cuộc chiến, niềm tức tưởi nghẹn ngào cho người lính một lòng vũng tin vào chính nghĩa mình theo đuổi trong 10 năm vào sinh ra tử:

Ba mươi tháng tư… ta ôm mặt khóc
Trên cầu Saigon cạnh phố Hùng Vương
Mười năm binh đao… mưòi ngày kết thúc
Ta còn nguyên mà… mất cả quê hương !

Bản tính thận trọng và suy tư, Trạch không vội vàng đổ tội cho ai đã bất chợt trở bàn tay xóa bàn cờ chiến cuộc, Trạch nhỏ lệ nghiêng mình trước vong linh anh hùng của một số nhỏ đàn Anh chỉ huy đã tuẩn tiết

Giờ thì đau thương vây Anh vây tôi
Súng trên tay rớt xuống ngậm ngùi
Anh đã chết cho tròn tình non nước
Cho bạn bè… nuối tiếc mãi không nguôi

Với người bạn đồng minh quay lưng bất thình lình, Trạch vẫn nhã nhặn:

Cám ơn mầy cùng tao chia xẻ
Trận chiến nào cũng khốc liệt cam go
Có hỏi mầy cũng là điều vô lý
Chuyện bỏ đi mầy quyết định được sao
Tao với mầy cũng chỉ là thằng lính
Thằng lính nào chẳng chấp nhận thương đau

Giai đoạn 10 năm kế tiếp của một chiến sĩ Việt Nam sau tháng 4/75, nếu không tự sát hoặc thoát ra khơi, dĩ nhiên là ngồi tù cải tạo dài dài từ nam ra bắc:

Bạn bè của ta có thằng tự sát
Bạn bè của ta có đứa ra khơi
Ta quẩy thân tù từ Nam ra Bắc
Long Giao, Văn Bản, Vĩnh Phú, Lào Cai
Ta gặp Quê Hương lưng tròng nước mắt
Thương xót cho ta, thương xót mọi người

Đói khát hành hạ thân xác, tủi nhục vằn vật tâm hồn, trước kia Gầm Thét nơi chiến trận, bây giờ là lúc Gầm Gừ trong ngục tù, Trạch là con hổ nhớ rừng Gậm mọi căm hờn trong củi sắt:

Ngày vào tù lại tung hô mẹ kiếp
Thua thằng ngu mới tơi tả cả hồn
Không sợ khổ chỉ sợ đời châm biếm

Ra khỏi trại tù, trở về trên 40 tuổi, thành phố hoa lệ cũ đã trở thành chợ trời bát nháo:

Cái tách, cái ly, cái quần, cái áo
Giải phóng ra đường đổi bát cơm tươi

Trạch đạp xích lô, đi kinh tế mới như đa số quân, cán, chánh cũ, huấn nhục thêm 10 năm nữa:

Cố dặn tâm hồn… đừng nhé chớ điên
Gắng sống nghe chưa… tìm đường vượt biển
Để cùng bạn bè lấy lại tình thương
Giờ Tự Do, Thanh Bình đã thoát tầm tay thì còn động lực Tình Thương để bám sống

Ngày ra đi của một H.O., Trạch ôn lại cho con Lịch Sử cùng Địa Dư quê hương mình, với lời hứa hẹn:

Con đã nhớ rõ rồi
Thôi ngày mai cha con mình sẽ
Vẫy tay chào tạm biệt quê hương
Mình ra đi mà vẫn nhớ vẫn thương
Ngày khôn lớn Con về trang trải nhé…

Trạch vẫn nghĩ mình còn NỢ quê hương, và giao món NỢ truyền kiếp đó lại cho con.

Vào năm 2000, thầy trò nối được liên lạc, bản thân tôi cũng khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, trong 25 năm lưu vong. Vẫn một lòng ân cần với mọi người, Trạch sợ tôi buồn nên rào đón « Thầy luôn hoài vọng, hoc trò mình thi đỗ, làm quan, Em, trước sau chỉ là một người lính, và một người lính bại trận… ». Tôi đã rớt những giọt nước mắt hiếm hoi của tuổi già vì những lời ấy. Bây giờ thì luận gì về Thành Bại, Vinh Nhục.. chỉ có hân hoan gặp lại người học trò cũ sau 3, 4 chục năm dâu bể tang thương.

Đặt chân lên đất Mỹ, Trạch lại trãi nghiệm những nhọc nhằn về cơm áo, những phút bơ vơ. lạc lõng của một di dân bất đắc dĩ:

Tao bây giờ đã bắt đầu bơ vơ
Đường phố thênh thang không đợi không chờ
Một cái bắt tay cùng lời hờ hửng
Mầy hả mầy…. tìm ra job hay chưa?

Trạch có làm nhiều bài thơ về tâm trạng mình ở Mỹ, vẫn thấy đau đáu niềm uất hận mất quê hương, vẫn dằng dặt nhớ thương chiến hữu còn hay mất, vẫn le lói xa xa niềm hy vọng con sẽ thay mình trở về tiếp tục phục vụ quê hương.

Ngày ta đi…
Ta thật nhiều lý lẽ
Đâu vô tình, đâu bội bạc phải không ?
Quê hương còn hoài bảo chờ mong…
Những người trẻ như con trở về Quang Phục

Đọc mấy chục bài thơ giọng bi hùng, lời giản dị, ý rõ ràng, không có cảm tưởng đọc văn thơ mà nghe tâm sự nhớ thương, u uất của người bị bức tử rời quê hương ngàn đời yêu dấu. Thơ Trạch thật vô cùng truyền cảm. Xếp tập thơ lại, tôi đau xót, bàng hoàng, không phải chỉ vì Trạch là một học sinh cũ mà tôi vẫn còn thương mến như vào những ngày Võ Trường Toản xa xưa…

Khư Thị Ngọc Sang

 


Advertisements

1 Comment »

  1. Nhớ nước đau lòng con quóc quóc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia!!!

    Comment by Nguyen thi That | 22/04/2013 | Reply


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: